Popular Posts

Wednesday, 2 May 2012

SỰ TIẾP XÚC VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI


Th.S Lê Tùng Lâm[1]

SỰ TIẾP XÚC GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI
Thời kì cận đại của lịch sử thế giới bắt đầu từ sự thắng lợi cuộc cách mạng tư sản Hà Lan vào giữa thế kỉ XVI và kết thúc bằng Cách mạng tháng Mười Nga (1917). Đây là thời kì xác lập và thắng lợi hoàn toàn của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi thế giới. Cùng với nó, nhân loại cũng đạt nhiều thành tựu quan trọng về mọi lĩnh vực như: chính trị tư tưởng, khoa học kĩ thuật, văn học nghệ thuật….
1. NHỮNG CUỘC PHÁT KIẾN ĐỊA LÍ
1.1. Nguyên nhân
Thế kỉ XV, kinh tế hàng hoá ở Tây Âu đã phát triển khá nhanh đòi hỏi mở rộng mối quan hệ giao thương với các nước phương Đông. Tuy nhiên, con đường thương mại giữa châu Âu và châu Á đang bị bế tắc do sự chiếm giữ của người Ả Rập, người Thổ Nhĩ Kì và người Hồi giáo.
- Người Ả Rập độc chiếm con đường thương mại từ phía nam châu Âu qua Địa Trung Hải sang Ấn Độ hoặc đi qua Ai Cập, Hồng Hải…. Người Ả Rập tạo nên một hàng rào kiểm soát chặt chẽ giữa Ấn Độ và châu Âu khiến cho không một thuyền buôn châu Âu nào neo đậu được trên Hồng Hải[2]. Do đó, hàng hóa từ châu Á sang đã được thương nhân Ả Rập nâng giá lên gấp 8 – 10 lần.
- Một con đường thương mại khác đến Trung Quốc bằng cách dùng lạc đà chở tơ lụa và các sản phẩm hương liệu, gia vị, trầm hương…của Trung Quốc xuyên qua sa mạc, những hẻm núi của Tây Á đến châu Âu (con đường tơ lụa) cũng bị thương nhân Afghanistan chiếm giữ.
- Giữa thế kỉ XV, đế quốc Byzantium bị tiêu diệt, người Thổ Nhĩ Kì chiếm luôn Tiểu Á, Bankals, Constantinople, Crưm và kiểm soát toàn bộ Bắc Hải. Người  Thổ Nhĩ Kì cướp đoạt tàn bạo hàng hóa của thương nhân  châu Âu. Do đó, con đường này hầu như cũng bị cắt đứt.
Trước tình hình đó, thương nhân châu Âu phải mua lại hàng hóa của thương nhân Ả Rập với giá đắt hơn từ 8 – 10 lần. Vì thế, việc tìm ra một con đường mới sang phương Đông là một nhu cầu cấp bách của thương nhân châu Âu.
Ngoài ra, sự thèm khát của quý tộc và thương nhân châu Âu đối với nguồn hương liệu, gia vị, vàng bạc, tơ lụa của phương Đông cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng thúc đẩy những cuộc hành trình vượt biển sang phương Đông. Trong khi các lãnh chúa, quý tộc Tây Âu phải hùng hục nuốt những cục thịt cừu đoản vị thì một chút hồ tiêu, gia vị của phương Đông đã làm cho thịt cừu trở nên thơm ngon hơn và dễ tiêu hóa hơn. Mặt khác, trong trí tưởng tượng của nhiều người châu Âu, châu Á là xứ sở của vàng bạc, gia vị… Do đó, họ phải tìm một con đường mới sang phương Đông để cướp đoạt những nguồn tài nguyên đó.
Mặt khác, sự tiến bộ về khoa học kĩ thuật (đặc biệt là về hàng hải) cũng góp phần quan trọng vào những chuyến đi vượt đại dương của các nhà thám hiểm châu Âu. Người ta biết được Trái Đất hình cầu, biết sử dụng la bàn của người Trung Quốc, bản đồ của người Hy Lạp, tàu biển của người à Rập[3]. Đặc biệt, kĩ thuật đóng tàu có nhiều tiến bộ quan trọng. Tư sản châu Âu đã đóng được những thuyền lớn, có cột buồm và hệ thống buồm lợi dụng được các loại gió, có bánh lái và có thể vượt đại dương với tốc độ mỗi giờ 10km như tàu Caravel, tàu Santa Maria…  Như vậy, các nhà thám hiểm châu Âu đã có đủ những điều kiện về vật chất lẫn tinh thần để tiến hành những cuộc thám hiểm vượt đại dương để tìm ra những con đường mới, những vùng đất mới.

1.2. Những cuộc phát kiến địa lí lớn thế kỉ XV-XVI:
a. Những cuộc phát kiến của người Bồ Đào Nha
Năm 1415 Hoàng tử Henri – người được mệnh danh là Nhà hàng hải đã sáng lập ra trường Hàng hải, Thiên văn và Địa Lí ở Evora. Ông là người có hiểu biết nhiều về địa lí, thiên văn, họa đồ. Hằng năm, ông tổ chức những đoàn thăm dò từng đoạn bờ biển ngắn ở châu Phi. Bằng nhiều chuyến đi, người Bồ Đào Nha dần dần phát hiện một số đảo nhỏ ở Tây Phi và tiến hành khai thác mỏ vàng, mua các sản phẩm địa phương (da thú, ngà voi…) và bán cho người da đen vũ khí, rượu, vải…. Năm 1417, người Bồ Đào Nha đã đến vùng biển ngang xích đạo, năm sau đến Guinea rồi đến cửa sông Congo.
Năm 1486, nhà hàng hải B. Điaxơ (Dias) đi xuống phía Nam nhưng bị bão đánh đi thật xa rồi giạt vào cực Nam châu Phi. Ông đặt tên là mũi Bảo Táp (sóng cao 20 – 24 m, mùa hè ở Hảo Vọng gió đến 120 km/h). Sau đó, ông nhìn thấy bờ biển phía Đông và được một số hoa tiêu Hồi giáo hứa sẽ đưa ông sang Ấn Độ nên ông đổi tên mũi Bảo Táp thành mũi Hảo Vọng. Nhưng vì hết lương thực nên đoàn thuyền phải quay về.
Tháng 7.1497, Vasco da Gama (một chàng thủy thủ 28 tuổi với cá tính quả quyết, dũng cảm và lạnh lùng, tàn nhẫn. Một người rất đam mê với những hoạt động hàng hải và từng học tại trường hàng hải của Hoàng tử Henri) chỉ huy 3 tàu với 160 người (gồm cả chỉ huy, thủy thủ, các loại thợ, giáo sĩ, phiên dịch và 12 tử tù) men theo bờ biển châu Phi đi về hướng Đông. Đoàn thuyền bị đảo đánh dạt sang Braxin (Brasil). Sau đó, họ trở lại mũi Hảo Vọng, được hoa tiêu người Mã Lai dẫn đường đã vượt Ấn Độ Dương đến được Calicut (Tây Nam Ấn Độ). Như vậy, Vasco da Gama đã mở được con đường biển từ châu Âu đi sang châu Á. Sau một thời gian ở Calicut, Gama không được lên thành phố buôn bán nên quay thuyền trở về. Trên đường về, Vasco da Gama cho đánh cướp tất cả thuyền buôn đi lại trên Ấn Độ Dương và mang về Bồ Đào Nha với số lượng hàng hóa trị giá gấp 60 lần số tiền dùng trong cuộc viễn chinh. Ngày 18.9.1499, đoàn thuyền của Vasco da Gama về đến Bồ Đào Nha. Từ đó, người Bồ Đào Nha đã độc chiếm con đường biển này suốt 18 năm trời. Như vậy, người Bồ Đào Nha đã tìm được con đường sang châu Á từ hướng Đông. Lúc này, người Tây Ban Nha cũng bắt đầu thực hiện những chuyến thám hiểm về hướng Tây.

b. Những cuộc phát kiến của người Tây Ban  Nha
Xuất phát từ niềm tin Trái Đất hình cầu nên trong khi các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha đi sang hướng Đông thì các nhà thám hiểm Tây Ban Nha lại đi sang hướng Tây để tìm con đường mới sang châu Á.
Ngày 17.4.1492, Christopher Colombus (một người Italia đã sống nhiều năm ở Tây Ban Nha, học tập và nghiên cứu về địa lí, hàng hải. Cuốn Địa lí học của Ptolemy và cuốn Du kí của Marco Polo là những cuốn sách mà Columbus say sưa đọc, tích lũy được nhiều kiến thức. Nhờ đó, Columbus biết rằng Trái Đất hình tròn, khoảng cách giữa phía Đông và phía Tây bị ngăn cách bởi biển cả nhưng rất gần với Ấn Độ)[4] đã kí bản cam kết với đại biểu của Quốc vương Tây Ban Nha để nhận được sự bảo trợ của nhà vua cho những chuyến thám hiểm của mình. Ngày 3.8.1492, Columbus với 3 chiếc thuyền lớn cùng 90 thủy thủ rời Tây Ban Nha, vượt Đại Tây Dương đi về hướng Tây. Sau hai tháng lênh đênh trên biển, đoàn thuyền của Columbus cũng đến được hòn dảo San Salvador và nhiều hòn đảo khác ở vùng biễn Caribe rồi đặt chân đến Cuba. Tuy nhiên, ông nhầm lẫn đây là vùng đất Tây Ấn Độ nên gọi thổ dân nơi đây là “người Indians”. Sau đó, ông còn tổ chức thêm 3 chuyến thám hiểm nửa (năm 1493, 1498 và 1502) và phát hiện thêm một số đảo và lãnh thổ trên đất liền. Tuy nhiên, sự nhầm lẫn đáng tiếc nhất của Columbus là ông đã nhầm tưởng đây là Ấn Độ. Cư dân trên những đảo này trồng khoai mì, thuốc lá, bông vải và vài loại cây lương thực khác, nhưng cái làm cho Columbus quan tâm nhất là đồ trang sức lấp lánh mà thổ dân đeo trên người. Năm 1506, ông chết trong sự nghèo khổ, túng quẩn.
Sự nhầm lẫn này của Columbus đã được một người ý là Vespucci Amerigo chứng minh vào năm 1501. Khi đặt chân đến vùng đất Caribe, V. Amerigo nhận thấy không có liên qua gì đến vùng đất châu Á và quả quyết rằng đây là xứ sở chưa từng được biết tới. Trong tập ghi chép năm 1504, Amerigo viết tên miền đất lạ này là Mundus Novus (Tân Thế giới) – là vùng nằm giữa châu Âu và châu Á. Năm 1507, nhà Bản đồ học người Đức đã in tấm bản đồ Tân Thế giới đầu tiên và đặt tên vùng này là America để tỏ lòng tôn kính V. Amerigo. Từ đó, châu Mĩ mang tên là America.
Cuộc hành trình vĩ đại nhất là của Ferdinal Magellen - một quý tộc người Bồ Đào Nha. Ông từng đệ trình lên nhà vua Bồ Đào Nha kế hoạch thám hiểm của mình nhưng bị khước từ. Ông sang Tây Ban Nha và được vua Tây Ban Nha đồng ý với kế hoạch đó. Tháng 9.1519, F. Magellan chỉ huy một đoàn gồm 5 thuyền với với 265 thủy thủ vượt Đại Tây Dương đi về hướng Tây theo con đường của Columbus. Đoàn thuyền đến Brasil rồi vòng xuống cực Nam châu Mĩ. Đang ở Đại Tây Dương sóng to gió lớn, đoàn thuyền đi vòng qua mũi đất hoang tàn vì giông bão của lục địa Nam Mĩ (nay gọi là eo biển Magellan) và đi vào một đại dương mới sóng yên biển lặng nên Magellan đặt tên là Thái Bình Dương. Thủy thủ đoàn chịu đựng 99 ngày trên Thái Bình Dương trong cảnh hết lương thực, nước ngọt. Thậm chí, một số thủy thủ đã nổi loạn và Magellan phải cho treo cổ một số người để làm gương. Hơn 3 tháng lênh đênh trên biển, đoàn thuyền hết lương thực, phải bắt chuột để ăn nhưng chuột cũng hết, mọi người phải ngâm dây thắt lưng bằng da để ăn cho đỡ đói. Cuối cùng, ngày 16.3.1521, đoàn thuyền của Magellan cũng đặt chân lên được Philippines. Sau khi được cứu sống và tiếp tế đầy đủ lương thực, nước ngọt, Magellan cho thủy thủ đi cướp bóc của cải của người Philippines. Trong một cuộc đụng độ với nhân dân Philippines, Magellan đã thiệt mạng. Juan Sebastian de Elcano lên thay nắm quyền chỉ huy và cho con thuyền độc nhất còn lại tiếp tục qua eo biển Malacca, vượt Ấn Độ Dương đến Mũi Hảo Vọng rồi về Tây Ban Nha từ hướng Đông (6.9.1522). Như vậy, sau hơn 3 năm thám hiểm, đoàn thuyền của Magellan đã ra đi từ hướng Tây và về từ hướng Đông. Đây là chuyến đi vòng quanh thế giới đầu tiên trong lịch sử nhân loại.

2. SỰ TIẾP XÚC CÁC NỀN VĂN MINH
Sau những cuộc phát kiến địa lý, những cuộc tiếp xúc giữa các nền văn minh diễn ra mạnh mẽ.
Thứ nhất: Sự hiểu biết của con người về thế giới được mở rộng. Người ta tìm ra những vùng đất mới, những châu lục mới (châu Mĩ), những dân tộc mới (người Inca, người Maya, người Aztech…) và đại dương mới (Thái Bình Dương). Sự thành công những cuộc phát kiến địa lý đã chứng minh Trái Đất hình cầu, bác bỏ những quan niệm sai lầm của Giáo hội và là những cống hiến to lớn cho sự phát triển các ngành địa lý, thiên văn, hàng hải. Từ đó, nhiều ngành nghiên cứu mới ra đời như: dân tộc học, nhân học, địa chất học, sinh học….
Thứ hai: sau những cuộc phát kiến địa lí đã diễn ra những cuộc di dân với quy mô lớn. Thương nhân tranh nhau giành giật những thị trường và nguồn tài nguyên, chính phủ các nước tranh nhau đẩy mạnh quá trình xân chiếm và đặt ách thống trị ở những vùng đất mới. Người da đen từ châu Phi bị bắt đem bán sang châu Mĩ làm nô lệ. Các nhà truyền giáo châu Âu đã mang Kinh Thánh đi đến khắp nơi và “họ đổi kinh thánh để lấy những vùng đất đai trù phú, màu mỡ của người thổ dân châu Mĩ”. Chính những cuộc xâm chiếm, truyền giáo, bóc lột, đặt ách thống trị đó đã tạo nên sự tiếp xúc giữa các nền văn minh với nhau. Người châu Âu tiếp thu nền văn minh truyền thống của phương Đông. Người châu Á, châu Phi tiếp cận với trình độ công nghệ cao hơn của người châu Âu. Do đó, ở châu Âu dần dần hình thành nền văn minh rất đa dạng do sự hòa hợp giữa các yếu tố văn hóa châu Á-châu Phi-bản địa. Đặc biệt, họ còn phát hiện ra nền văn minh tiền Columbus với 3 dân tộc chính là Inca, Maya và Aztech.
+ Người Maya và người Aztec là chủ nhân của Mexico ngày nay. Họ có nền văn minh lâu đời (xuất hiện từ thế kỷ I TCN đến thế kỉ X) và đạt trình độ cao. Họ sớm có nhà nước và xây dựng nhiều thành thị, lâu đài bằng đá, nhiều lễ đường nguy nga. Một trong những công trình kiến trúc cổ còn sót lại ở Mexico hiện nay là Thành “Yushe” Chichen. Chichen có nghĩa là “Giếng của người Chichen”. Đây là một cứ điểm quan trọng của người Maya. Thành Yushe có độ dài Bắc Nam khoảng 4000m, trong thành, các công trình kiến trúc như miếu thần, cung điện, đường phố, đàn cầu khấn, quảng trường…đều được xây dựng rất đàng hoàng. Họ có những quảng trường rộng đến 50.000m2, bốn phía được bố trí với khoảng 1000 cột hình tròn cao 23m. Bên cạnh đó, Kim tự tháp Yushe cũng được xây dựng với một kiến trúc rất độc đáo: số bậc thềm và số bậc cầu thang chính là số ngày và số tháng trong một năm, 52 phiến đá có hình điêu khắc tượng trưng cho chu kì 52 năm của người Maya[5] .Họ có những Kim tự tháp cao 75m, rộng 350 m2 và ngày 21 tháng 6 vào 12 giờ trưa thì mặt trời chiếu rọi 4 mặt tháp, tức thành đường thẳng. Hiện nay thủ đô Mexico còn lại tờ lịch bằng đá nặng 20 tấn của người Aztec. Chữ viết của họ vừa tượng âm vừa tượng hình, được khắc trên đá. Đến 1960, đã đọc được văn tự Maya. Người dân biết làm ruộng bậc thang với hệ thống tưới nước khá hoàn chỉnh.
+ Người Inca là chủ nhân của Peru ngày nay. Kinh tế của họ chủ yếu là nông nghiệp, họ đã tổ chức thành những công xã nông thôn. Họ cũng có chữ viết và tôn giáo riêng. Trình độ văn minh rất cao, và có niên đại khoảng 3500 – 4000 năm. Các nhà khoa học tìm thấy những củ khoai tây, gói muối có niên đại 5.000 năm. Phát hiện ra kho chứa khoại tây, lạc (đậu phộng) dài và rộng 450 feet và cao 200 feet. Nhiều công trình kiến trúc đồ sộ có hình dáng và cấu tạo giống như Kim Tự Tháp Ai Cập được xây dựng như Kim tự tháp El Paraisô được xây bằng 200.000 phiến đá, có phiến nặng tới 200 tấn. Nó mang tính chất lễ nghi tôn gáo.
Thứ ba: thị trường thế giới được mở rộng. Vào khoảng năm 1400, người châu Âu chỉ biết được khoảng 10% diện tích trái Đất (50/510 triệu km2 ), năm 1500 họ biết tới 110 triệu km2; năm 1600 họ biết tới 321 triệu km2. Ngoài ra, hàng hoá của nền thương mại thế giới trở nên phong phú hơn, nhiều loại hàng hoá mà châu Âu chưa từng biết đến, nay đã bị lôi cuốn vào sự lưu thông của nó như: cacao (của Mexico) được Tây Ban Nha sử dụng đầu tiên và phổ biến ở Tây Âu; thuốc lá của châu Mĩ phổ biến ở Tây Âu vào năm 1600, và thế kỷ XVIII chiếm một nửa hàng xuất khẩu của các thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ. Từ Constantinop và Cận Đông cà phê  vào Tây Âu và thế kỷ XVII được dùng thường xuyên. Trà do người Bồ Đào Nha và Hà Lan đem từ Trung Quốc về. Gạo và đặc biệt là đường, châu Âu vốn ít sử dụng nay trở nên một mặt hàng quan trọng. Hồ tiêu là mặt hàng rất quan trọng của châu Âu đã tăng lên nhanh chóng: Người Vênêxia trước đây chỉ cung cấp khoảng 210 tấn thì giờ đây,  người Tây Ban Nha đưa từ Ấn Độ tới khoảng 7.000 tấn.
Thứ tư: Sự di chuyển của các đường thương mại ra đại dương, việc buôn bán bằng đường biển ở châu Âu đã được thay thế bằng việc buôn bán trên các đại dương: Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương; hệ thống sông châu Âu như Vixla, Ođe, Enbơ, Rainơ, Xen, Loi và Biển Địa Trung Hải chỉ mang ý nghĩa thương mại địa phương. Cũng vì lẽ đó mà thế kỷ XVI đã có sự di chuyển các trung tâm kinh tế châu Âu: các thành thị của Italia bị mất độc quyền buôn bán với Cận Đông, các thành thị Nam Đức cũng trong tình trạng sa sút. Ngược lại, sự hưng khởi và phồn thịnh chưa từng có của các thành thị của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Hà Lan. Thành phố Amtesdam là thủ đô thương mại của Hà Lan vào thế kỷ XVII, London vào thế kỷ XVII – XVIII.
Thứ năm: Sau những cuộc phát kiến địa lí đã làm bùng lên Cuộc cách mạng giá cả do kim loại quý như vàng, bạc đổ vào châu Âu nhiều chưa từng có: người Tây Ban Nha từ 1493 – 1600 đã chở về nước mình 276.000kg vàng và trữ lượng vàng châu Âu tăng từ 550.000 kg lên 1.192.000 kg và bạc tăng từ 7 triệu kg lên 21 triệu kg. Vàng bac được tung ra để mua hàng, nên giá cả tăng lên vùn vụt: ở Anh, Pháp, Đức trung bình giá tăng từ 2 – 2,5 lần vào thế kỷ XVI, Tây Ban Nha tăng từ  4 – 5 lần. Đặc biệt, hàng xa xỉ tăng cao: len tăng 38% (1500 – 1586). Nó là điều kiện cho thương nhân và các nhà sản xuất hàng hóa. Kích thích tích lũy ngoại tệ và thúc đẩy sản xuất.
Thứ sáu: sự phát hiện ra những Châu lục mới đã thúc đẩy nhanh quá trình xâm chiếm thuộc địa của các nước đế quốc. Từ thế kỉ XV-XVI, người Bồ Đào Nha bắt đầu lập các thương điếm của mình ven châu Phi đề trao đổi, buôn bán và bắt nô lệ để đem bán sang châu Mĩ. Sau khi tìm ra con đường đến Ấn Độ, người Bồ Đào Nha đẩy mạnh hơn nửa việc xâm chiếm ở châu Á: năm 1517, họ đến Trung Quốc và năm 1542, họ đến Nhật Bản. Ở Ấn Độ, Bồ Đào Nha chiếm lấy Goa (1510), chiếm Malacca, Java (1511).


[1] Thạc Sĩ, Giảng viên Khoa SPKHXH – Trường Đại học Sài Gòn
[2] Vũ Dương Ninh (1998), 147
[3] Lê Phụng Hoàng (2001), tr 159.
[4] Ngô Minh Oanh (2005), tr94
[5] Nguyễn Văn Huân (2008), Kỳ tích văn minh thế giới, NXB Hải Phòng, tr 225-228.

No comments:

Post a Comment