Bài phổ biến

15/10/21

Học thuyết Monroe - “châu Mỹ của người châu Mỹ”

 

Học thuyết Monroe - “châu Mỹ của người châu Mỹ”

Học thuyết Monroe là gì?

Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2019/02/20/hoc-thuyet-monroe-la-gi/

Nằm ở khu vực châu Mỹ, mục tiêu bành trướng ảnh hưởng đầu tiên của Mỹ là các nước châu Mỹ Latinh. Vào những thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX, miền Trung và Nam Mỹ đã hướng về cách mạng. Cho tới năm 1822, dưới sự lãnh đạo tài tình của Simon Bolivar, Francisco Miranda, José de San Martin và Miguel Hidalgo, tất cả khu vực nói tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở châu Mỹ - từ Argentina và Chile ở miền Nam tới Mexico ở miền Bắc - đều đã giành được độc lập. Nga, Phổ và Áo đã thiết lập Liên minh Thần thánh để bảo vệ họ trước các cuộc cách mạng. Bằng việc can thiệp vào những nước nơi phong trào của quần chúng đang đe dọa chế độ quân chủ, liên minh này - có sự tham gia của Pháp thời hậu Napoleon - đã hy vọng có thể ngăn chặn cách mạng lan rộng. Khi Liên minh tuyên bố ý định muốn phục hồi các thuộc địa cũ của Tây Ban Nha thì người Mỹ bắt đầu lo âu.

Tháng 12/1823, khi biết hải quân Anh sẽ bảo vệ châu Mỹ Latinh chống lại Liên minh Thần thánh và Pháp vì lợi ích thương mại của Anh, Tổng thống Monroe (nhiệm kỳ 1817-1825) đã nhân dịp gửi thông điệp hàng năm tới Quốc hội công bố những điều mà sau này người ta gọi là Học thuyết Monroe - chối từ chấp nhận bất cứ một sự mở rộng thống trị tiếp theo của châu Âu ở các nước châu Mỹ:

Các nước lục địa châu Mỹ... từ nay trở đi không thể được coi là đối tượng của thực dân hóa trong tương lai do bất cứ một cường quốc châu Âu nào tiến hành.

Chúng ta phải coi bất kỳ toan tính nào về phần họ nhằm mở rộng hệ thống [chính trị] của họ tới bất cứ bộ phận nào của bán cầu này đều là nguy hiểm đối với hòa bình và an ninh của chúng ta.

Chúng ta đã không can thiệp và sẽ không can thiệp vào những thuộc địa hay các xứ phụ thuộc nào của bất cứ cường quốc châu Âu nào. Nhưng với những Chính phủ đã tuyên bố nền độc lập của mình và bảo vệ nền độc lập ấy và được chúng ta thừa nhận thì chúng ta phải coi bất kỳ một sự can thiệp nào nhằm mục đích áp chế họ hay kiểm soát số phận của họ bằng bất kỳ phương thức nào do bất cứ cường quốc châu Âu nào thực hiện đều thể hiện khuynh hướng thù nghịch đối với nước Mỹ.

Những toan tính của thuyết “bành trướng theo định mệnh”

Nguồn: https://baophapluat.vn/nhung-toan-tinh-cua-thuyet-banh-truong-theo-dinh-menh-post367062.html

Học thuyết Monroe đã thể hiện tinh thần đoàn kết với các nền cộng hòa mới giành độc lập ở châu Mỹ Latinh. Những dân tộc này đã công nhận tầm quan trọng của quan hệ chính trị với Mỹ bằng việc thiết lập các hiến pháp mới của mình theo mô hình của Bắc Mỹ xét trên nhiều phương diện. Thực chất nội dung châu Mỹ của người châu Mỹcủa học thuyết Monroe là châu Mỹ của người Bắc Mỹ”, để biện minh cho hành động bành trướng ở Tây bán cầu trong lúc Mỹ chưa đủ lực để vươn xa hơn.

Vào thời kỳ này, Mỹ còn yếu hơn rất nhiều cả về thế và lực so với các cường quốc khác ở châu Âu mà đặc biệt là so với Anh và Pháp, vì vậy Mỹ chỉ có thể thực hiện chính sách mở rộng lãnh thổ ở sân nhà là chủ yếu, chứ chưa thể bành trướng ảnh hưởng ở châu Âu. Do đó, về thực chất, học thuyết Monroe không phải là một thứ chủ nghĩa biệt lập thuần túy mà là luận thuyết phân chia khu vực ảnh hưởng, phân chia thị trường. Đây cũng là học thuyết chống lại mọi sự can thiệp của các cường quốc châu Âu vào Bắc và Nam Mỹ, và việc Bắc Mỹ can thiệp vào châu Âu. Từ đây có thể thấy là không phải Mỹ muốn biệt lập, không có tham vọng dính líu gì tới bên ngoài mà thực chất Mỹ muốn ngăn cản các cường quốc châu Âu, không cho họ bành trướng ảnh hưởng và buôn bán ở lục địa châu Mỹ vì Mỹ coi đây là sân sau tự nhiên, là khu vực ảnh hưởng của riêng Mỹ. Mỹ đã tuân thủ chiến lược biệt lập theo học thuyết Monroe cho đến trước chiến tranh thế giới thứ hai.

Haushofer - nhà tư tưởng địa-chính trị lỗi lạc người Đức - trong khi nghiên cứu nước Mỹ đã nhận định đây là đất nước đã sử dụng thành công nhất địa-chính trị trong khu vực của nó; học thuyết Monroe đã quy định sự thống trị của nước Mỹ ở châu Mỹ latinh và không phải chịu sự cạnh tranh của bất cứ sức mạnh nào [85, tr.3].

02/12/1823: Học thuyết Monroe được công bố

Nguồn: https://baophapluat.vn/nhung-toan-tinh-cua-thuyet-banh-truong-theo-dinh-menh-post367062.html

Mỹ liên tục có những hành động can thiệp tại các khu vực của châu Mỹ La-tinh. Trong khoảng thời gian giữa năm 1900 và 1920, Mỹ đã tiến hành sáu vụ can thiệp dai dẳng tại sáu nước ở phía Tây bán cầu - trong đó nổi bật là Haiti, Cộng hòa Dominica và Nicaragua. Washington đã đưa ra hàng loạt các lời biện minh cho các hành động can thiệp này như: để thiết lập ổn định chính trị và Chính phủ dân chủ, để tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho Mỹ (thường được gọi là chính sách ngoại giao USD), để duy trì tuyến đường biển nối với kênh đào Panama và thậm chí là để tránh cho các nước châu Âu khỏi việc đòi nợ bằng vũ lực. Năm 1867, Mỹ đã ép Pháp phải rút quân đội ra khỏi Mexico. Tuy nhiên, nửa thế kỷ sau, trong một phần của chiến dịch sai lầm nhằm đàn áp cuộc nổi dậy của người Mexico và ngăn chặn các cuộc đột kích vào lãnh thổ của Mỹ, Tổng thống Woodrow Wilson đã cử 11.000 quân tới vùng phía bắc của Mexico trong một nỗ lực không thành nhằm vây bắt thủ lĩnh nổi loạn Francisco Pancho Villa.

Những năm 20 của thế kỷ XIX, Mỹ vẫn tiếp tục chính sách bành trướng nhưng để làm yên lòng các nước Mỹ La-tinh, trong hội nghị liên Mỹ (năm 1928) tại La Habana, Bộ Ngoại giao Mỹ ra sức giải thích rằng học thuyết Monroe không có nghĩa là đặt châu Mỹ dưới sự thống trị của Mỹ mà chỉ nhằm đặt toàn châu Mỹ ra ngoài tầm tham vọng của châu Âu. Chính quyền sau này của Herbert Hoover (1929-1933) và Franklin D. Roosevelt (1933-1945) bác bỏ quyền can thiệp của Mỹ ở châu Mỹ Latinh.

Đặc biệt, chính sách láng giềng thân thiện của Roosevelt năm 1934 dù không thể xóa hết các căng thẳng giữa Mỹ và châu Mỹ Latinh đã giúp giảm bớt thái độ thù địch với các hành động can thiệp và đơn phương trước đây của Mỹ trong khi vẫn đảm bảo được sự bành trướng của tư bản Mỹ ở khu vực này.

9/10/21

NƯỚC MỸ THỜI KÌ NỘI CHIẾN

NHỮNG SỰ KIỆN CƠ BẢN     Tháng 11-1860, Abraham Lincoln – Đảng Cộng hòa đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ.       Ngày 4-2-1861, nhà nước Hợp bang miền Nam Hoa Kỳ được thành lập do Jefferson Davis (Mississippi) làm Tổng thống.     Ngày 1-1-1863, Tổng thống Liên bang - Abraham Lincoln công bố “Tuyên bố Giải phóng Nô lệ”.          Tháng 7-1863, quân Liên bang do Tướng Meade chỉ huy đánh bại quân Hiệp bang trong trận chiến Gettysburg. Tướng Ulysses S.Grant kiểm soát toàn bộ vùng Mississippi.         Ngày 9-4-1865, Tướng Lee (Hiệp bang) đã đầu hàng Tướng Grant tại Appomattox Courthouse, đánh dấu cuộc nội chiến kết thúc.        Ngày 14-4-1865, Tổng thống A.Lincoln bị ám sát.                     Tháng 12-1865, Quốc hội bỏ phiếu phê chuẩn việc bãi bỏ chế độ chiếm hữu nô lệ ở miền Nam.

Nước Mỹ thời kì nội chiến

Cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ giành được thắng lợi. Nước Hợp Chúng quốc Mỹ (Hoa Kỳ) đã ra đời nhưng Hiến pháp 1787 vẫn công nhận sự tồn tại của chế độ nô lệ. Chủ nô đã đưa đại diện của mình lên làm Tổng thống trong nhiều nhiệm kì và nhờ đó đã bảo vệ được chế độ nô lệ đồn điền ở miền Nam. Đến những năm 50 của thế kỉ XIX, kinh tế Mỹ chủ yếu phát triển theo hai con đường: công thương nghiệp của miền Bắc và kinh tế đồn điền sử dụng chủ yếu là nô lệ ở miền Nam. Điều này tạo ra sự phát triển không đều giữa hai miền Nam – Bắc của Mỹ

Nguồn gốc nội chiến

Thứ nhất, sự phát triển không đều giữa hai miền Nam – Bắc của Mỹ trong nửa đầu thế kỉ XIX. Miền Bắc có những điều kiện thuận lợi để phát triển (một vùng đất rộng lớn, tài nguyên phong phú, tàn dư phong kiến không nặng nề như châu Âu, có nguồn lao động bổ sung dồi dào do dân di cư từ châu Âu đến có kĩ thuật và cần cù lao động, thừa hưởng thành tựu cách mạng kĩ thuật của châu Âu đặc biệt là cách mạng công nghiệp Anh) đã giành được nhiều thành tựu trong sự phát triển sản xuất, như: trong công nghiệp nhẹ, công nghiệp đường sắt, ngành khai mỏ, luyện kim, giao thông vận tải… đến năm 1850, giá trị sản lượng công nghiệp đã vượt quá giá trị sản lượng nông nghiệp. Mặt khác, nền nông nghiệp trại chủ nhỏ chiếm ưu thế sản xuất phục vụ thị trường công nghiệp. Nhưng con đường phát triển nông nghiệp kiểu tư bản Mỹ không thể dung nạp chế độ nô lệ đồn điền miền Nam và bản thân những người nô lệ sẽ đấu tranh đòi giải phóng.

Ngược lại, ở miền Nam, nền nông nghiệp nằm trong tay các chủ đồn điền lớn dựa trên sự bóc lột nô lệ da đen. Những năm 50 của thế kỉ XIX, kinh tế đồn điền ở miền Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng do: chủ nô không cải tiến công cụ, không cải tạo đất đai và vắt máu nô lệ. Thêm vào đó, chế độ nô lệ ngăn trở những người di dân da trắng tự do vào miền Nam. Điều đó cho thấy, sự tồn tại của chế độ nô lệ ảnh hưởng đến cơ sở phát triển công nghiệp.

Thứ hai, mâu thuẫn về chính sách thuế quan giữa hai miền. Chính sách thuế là vấn đề cơ bản trong sự khác biệt và đối lập giữa hai miền Nam – Bắc. Trong khi chủ công nghiệp miền Bắc muốn bảo đảm thị trường quan thuế nội địa để bảo vệ và khuyến khích nền công nghiệp trong nước thì ngược lại, chủ nô miền Nam đóng chặt thị trường không cho hàng hoá miền Bắc vào, nhưng lại mở cửa nhập hàng hoá của Anh. Chính điều đó tạo ra mâu thuẫn không tránh khỏi giữa hai miền.

Thứ ba, mâu thuẫn về mục tiêu trong chính sách mở rộng về miền Tây. Miền Tây của Mỹ là khu vực rộng lớn. Trước sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp, chủ nô miền Bắc muốn đi về phía Tây để trồng ngô, lúa mì và nuôi gia súc…nhằm phục vụ cho sản xuất công nghiệp và biến vùng này thành vùng hậu cần cho công nghiệp. Thế nhưng, chủ nô miền Nam muốn đi về hướng Tây, tìm vùng đất mới thay thế vùng đất bạc màu ở miền Nam, tiếp tục phát triển chế độ đồn điền nô lệ ở đó. Sự khác biệt, đối lập về mục tiêu làm cho mâu thuẫn giữa chủ nô miền Bắc và miền Nam ngày càng sâu sắc hơn.

Như vậy, đến những năm 50 – 60 của thế kỉ XIX, vấn đề khai thác miền Tây và khuynh hướng phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa đã không cho phép chế độ nô lệ ở miền Nam tồn tại. Do nhu cầu phát triển kinh tế, chế độ nô lệ lạc hậu ở miền Nam cần được xóa bỏ. Nô lệ phải được tự do để giải phóng sức lao động, cung cấp nhân lực cho nền sản xuất công nghiệp. Vì vậy, nhiệm vụ xóa bỏ chế độ nô lệ ở miền Nam đang trở thành vấn đề cấp bách của Mỹ.

 


Nội chiến bùng nổ

Ngay từ năm 1858, xung đột giữa miền Bắc và miền Nam nước Mỹ về vấn đề chế độ nô lệ đã khiến cho các nhà lãnh đạo miền Nam thảo luận về việc tách khỏi Hợp Chúng Quốc. Đến năm 1860, đa số các bang theo chế độ nô lệ đã công khai đe doạ sẽ ly khai nếu Đảng Cộng hòa - đảng chống chế độ nô lệ, chiến thắng trong bầu cử Tổng thống. Nhưng cuối cùng, trước một Đảng Dân chủ chia rẽ, Abraham Lincoln – Đảng Cộng hòa đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ tháng 11-1860. Bang Nam Carolina ngay lập tức bắt đầu tiến trình ly khai khỏi Nhà nước liên bang. Ngày 20-12-1860, cơ quan lập pháp của Nam Carolina thông qua “Pháp lệnh ly khai” (Ordinance of Secession) và tuyên bố rằng “Liên bang hiện đang bao gồm Nam Carolina và các bang khác, tồn tại dưới tên Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, đã bị giải tán” và chuẩn bị chiếm đóng các pháo đài, kho vũ khí, và các địa điểm chiến lược khác trong tiểu bang”[1]. Đây là phản ứng đầu tiên của các bang miền Nam khi A.Lincoln đắc cử tổng thống.

Hành động của Nam Carolina đã được một số bang khác ở miền Nam ủng hộ. Ngày 4-2-1861, tại Montgomery (Alabama), đại biểu 6 bang: Nam Carolina, Mississippi, Florida, Alabama, Georgia, và Louisiana đã tập hợp để thành lập một nhà nước mới: Hợp bang miền Nam Hoa Kỳ (Confederate States of America). Ngày 9-2-1861, Jefferson Davis của Mississippi được bầu làm Tổng thống đầu tiên của Hợp bang. Đến tháng 3-1861, Texas đã gia nhập Hợp bang. Như vậy, gần như toàn bộ miền Nam đều nằm trong nhà nước Hợp bang. Quân đội của Liên bang chỉ còn giữ được các pháo đài Sumter ở Nam Carolina, Pickens ngoài bờ biển Florida, và một số tiền đồn nhỏ ở miền Nam. Ngày 12-4-1861, pháo binh Hợp bang dưới quyền Tướng P.G.T. Beauregard nổ súng vào Pháo đài Sumter, cuộc nội chiến chính thức bùng nổ. Trong vòng hai tháng, Virginia, Arkansas, Bắc Carolina, và Tennessee đã tham chiến cùng phe với Hợp bang. Như vậy, Hợp bang đã mở rộng lên thành 11 bang với dân số khoảng 9 triệu dân, bao gồm cả nô lệ.


Trong khi đó, lực lượng liên bang gồm 23 bang với dân số khoảng 22 triệu người. Sự vượt trội về công nghiệp đã cung cấp cho miền Bắc các thiết bị chế tạo vũ khí và đạn dược, quần áo và các đồ cung cấp khác. Mạng lưới đường sắt ở miền Bắc cũng có ưu thế vượt trội so với miền Nam. Thế nhưng, trong giai đoạn đầu cuộc chiến, quân đội Liên bang cũng gặp rất nhiều khó khăn, thử thách.

Tại Virginia quân đội Liên bang tiếp tục gặp hết thất bại này đến thất bại khác. Trong khi tiếp tục những nỗ lực đẫm máu nhằm chiếm được Richmond, thủ đô của phe ly khai, các lực lượng Liên bang liên tục bị đẩy lùi. Phe ly khai có lợi thế phòng thủ lớn là vô số những dòng sông, suối cắt ngang con đường nối Washington và Richmond. Hai viên tướng giỏi nhất, Robert E.Lee và Thomas J.Jackson tỏ ra vượt trội hơn về khả năng so với các vị tư lệnh chỉ huy quân đội liên bang thời kỳ đầu. Trận đánh lớn đầu tiên trong Nội chiến diễn ra tại Bull Run (bang Virginia) vào tháng 7-1861. Quân Liên bang đã thất bại và bị đầy lùi. Tổng thống Lincoln ngay lập tức bổ nhiệm George McClellan chỉ huy quân Liên bang. Năm 1862, McClellan đưa quân đội Liên bang tấn công vào Richmond – Thủ phủ của Hiệp bang nhưng không thành công. Quân Liên bang trong thời kì đầu liên tiếp gặp nhiều khó khăn, thất bại. Sau thất bại trong cuộc chiến đẫm máu ở Antietam, McClellan bị cắt chức, George Meode được cử thay thế để chỉ huy quân Liên bang.

Tuy nhiên, về mặt hải quân thì Liên bang vượt trội hơn so với Hiệp bang. Do đó, Tổng thống Lincoln đã cho hải quân bao vây các bờ biển miền Nam nhằm ngăn chặn được những chuyến tàu chở bông đi châu Âu và cắt đứt việc nhập khẩu vũ khí đạn dược, quần áo và đồ y tế mà miền Nam đang cần đến. Đến năm 1863, Liên bang gần như cắt đức được liên lạc của Hợp bang với các nước châu Âu. Mặt khác, một sự kiện quan trọng góp phần tạo ra bước chuyển của cuộc chiến tranh là việc Tổng thống Lincoln công bố “Tuyên bố Giải phóng Nô lệ”, ký ngày 1-1-1863. Theo đó, Lincoln cam kết trả tự do cho mọi nô lệ ở Hợp bang. Tuyên bố này “đã biến cuộc nội chiến thành cuộc thập tự chinh chống chế độ nô lệ”[2]. Người da đen gia nhập vào quân Liên bang rất nhiều. Quân đội Liên bang đã tuyển mộ và huấn luyện các trung đoàn lính da đen và đội quân này đã chiến đấu xuất sắc trong các trận chiến đấu từ Virginia tới Mississippi. Khoảng 178.000 người Mỹ gốc Phi đã phục vụ trong các Binh chủng hỗn hợp của Mỹ, và 29.500 người da đen phục vụ trong lực lượng Hải quân Liên bang. Tuyên ngôn này cũng làm cho Anh – quốc gia đã bãi bỏ chế độ nô lệ, không đứng về phe Hiệp bang, nơi cung cấp phần lớn bông vải cho ngành dệt của Anh. Rõ ràng, những sự kiện này đã mang lại nhiều thơi thế cho phe Liên bang.

Từ năm 1863, quân đội Liên bang từng bước phản công và giành những thắng lợi quyết định. Tháng 7-1863, Tướng Lee (Hiệp bang) quyết định cho quân tấn công Pennsylvania nhằm giành thắng lợi quyết định. Trong trận chiến Gettysburg (từ ngày 1 đến ngày 4-7-1863), quân đội của Tướng Lee đã bị quân Liên bang do Tướng Meade chỉ huy đánh tan tát. Tướng Lee đưa quân về Virginia và cố thủ tại đây cho đến tàn cuộc chiến. Thất bại này là một thảm họa đối với quân Hiệp bang vì “1/3 số quân Hiệp bang thương vong trong tình hình không còn quân dự bị. Hi vọng giành lại thế chủ động và xoay chuyển cục diện của tướng Lee hoàn toàn tiêu tan”[3].

Trong khi đó, ngày 4-7-1863, Tướng Ulysses S.Grant – người được Tổng thống Lincoln bổ nhiệm làm Tổng Tư lệnh toàn bộ các lực lượng quân đội Liên bang, chỉ huy quân Liên bang tấn công và chiếm được Vicksburg và kiểm soát toàn bộ vùng Mississippi. Năm 1864, ông đưa quân đến Richmond và chiếm được thủ phủ phe Hiệp bang (tháng 3-1865), cùng lúc đó, Tướng William Tecumseh Sherman đánh chiếm bang Georgia. Sherman dùng chiến thuật giỏi hơn nên đánh bại một số đội quân nhỏ hơn của phe ly khai và chiếm được thủ phủ Atlanta. Sau đó, ông hành quân tới bờ Đại Tây Dương, trên đường đi ông cho phá hủy một cách hệ thống các đường sắt, nhà máy, kho hàng và những phương tiện khác. Đến tháng 2-1865, ông đã chiếm Charleston ở Nam Carolina. Bây giờ, Hiệp bang không còn đủ tài lực, nhân lực để chiến đấu với quân Liên bang nữa. Ngày 9-4-1865, Tướng Lee đã đầu hàng Tướng Grant tại Appomattox Courthouse, đánh dấu cuộc nội chiến kết thúc. Tuy nhiên, những lễ hội ăn mừng chiến thắng của quân Liên bang đã phải đột ngột chấm dứt khi Tổng thống A.Lincoln bị ám sát ngày 14-4-1865.

Cuộc nội chiến kết thúc với thắng lợi cho quân đội Liên bang. Sau khi Lincoln bị ám sát, Phó tổng thống Andrew Johnson lên kế vị và thực hiện cuộc cải tổ ở miền Nam, mở rộng quyền dân sự cho người da đen và ngăn phe Hiệp bang trước đây giành lại quyền lực. Tháng 12-1865, Nghị viện đã bỏ phiếu phê chuẩn Điều bổ sung sửa đổi thứ 13 của Hiến pháp (Tu Chính Án 13) về việc bãi bỏ chế độ chiếm hữu nô lệ ở miền Nam. Như vậy, những cản trở sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Mỹ đã từng bước bị xóa bỏ. Đến năm 1870, Hiến pháp Mỹ thừa nhận quyền bầu cử của tất cả nam giới không kể màu da. Như vậy, chế độ nô lệ được xoá bỏ. Việc bãi bỏ chế độ nô lệ đã tạo điều kiện cho Mỹ phát triển nhanh chóng trong 30 năm sau đó. Vì vậy, có thể xem cuộc nội chiến là cuộc Cách mạng tư sản lần thứ hai ở Mỹ vì nó tạo ra quá trình chuyển biến mạnh mẽ trong nông nghiệp theo con đường tư bản chủ nghĩa. Con đường phát triển tư bản kiểu Mỹ trong nông nghiệp được mở rộng, cơ sở cho sự phát triển công nghiệp được tạo nên một cách đầy hứa hẹn. Nhờ vậy, cuối thế kỉ XIX, Mỹ bắt đầu tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp, nhanh chóng đưa nước Mỹ lên vị trí hàng đầu của các nước tư bản trên thế giới.



[1] States meet to form Confederacy, source: http://www.history.com/this-day-in-history/states-meet-to-form-confederacy.

[2] Patricia S. Daniels Stephen G. Hyslop (2007), Lược sử thế giới, NXB Từ điển Bách khoa, tr.377.

[3] Patricia S. Daniels Stephen G. Hyslop (2007), Lược sử thế giới, NXB Từ điển Bách khoa, tr.378.

Sự thành lập Hợp chúng quốc Mỹ (Hoa Kỳ)

1. Sự thành lập Hợp chúng quốc Mỹ (Hoa Kỳ)

Những thành tựu của phát kiến địa lý ở thế kỷ XV, XVI đã tìm ra Bắc Mỹ, là vùng đất được gọi là “Tân thế giới”. Đầu thế kỷ XVI mở đầu cho “cơn sóng nhập cư khổng lồ” từ châu Âu sang Bắc Mỹ. Vùng Bắc Mỹ bị coi như là “vùng đất vô chủ” nên các nước châu Âu giành nhau xâm chiếm. Lần lượt Tây Ban Nha, Pháp, Hà Lan, Thuỵ Điển… đem quân đội và dân di cư sang xâm chiếm, xây dựng cơ sở ở vùng đất mới. Tuy nhiên, chiến thắng cuối cùng thuộc về Anh.

Những người Anh di cư đầu tiên đến Bắc Mỹ vào cuối thế kỷ XVI. Công cuộc di thực của Anh đến vùng đất mới được thúc đẩy mạnh mẽ hơn bởi sự phá sản của nông dân sau cuộc cách mạng ruộng đất ở Anh.

Đến năm 1752, Anh đã thành lập được 13 vùng thuộc địa từ bờ biển Đại Tây Dương đến dãy núi Appalachia. Quá trình di dân từ châu Âu sang Bắc Mỹ cũng là quá trình xâm lược và tiêu diệt thổ dân Indians, đưa nô lệ da đen từ châu Phi sang khai phá đồn điền.

*Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Bắc Mĩ:

Trong các thế kỷ XVII, XVIII, các vùng thuộc địa ở Bắc Mỹ đã trở thành nơi cung cấp lương thực và nguyên liệu cho chính quốc. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển ở vùng đất thuộc địa đã xuất hiện những mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa.


Trong nông nghiệp: thực dân Anh bóc lột về nông nghiệp dựa trên sức lao động chủ yếu của nô lệ và dân nghèo làm thuê. Quý tộc tư sản Anh trở thành các đại địa chủ, chủ đồn điền ở Bắc Mỹ. 

Tầng lớp đại địa chủ đem ruộng đất phát canh thu tô với những điều kiện nặng nề. Để chống sự bóc lột tàn khốc, nông dân rời bỏ ruộng đất kéo nhau đi làm ăn ở vùng đất phía Tây. Họ trở thành những người nông dân tự do có quyền tư hữu ruộng đất và thoát khỏi sự ràng buộc của những tàn dư phong kiến. Trong các đồn điền ở phía Nam, chủ đồn điền gia tăng sự bóc lột tàn bạo nô lệ, đẩy nhanh quá trình tích luỹ tư bản ở Bắc Mỹ. Cho nên về cơ bản, kinh tế đồn điền ở Bắc Mỹ là nằm trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nhà tư bản và chủ đồn điền - chủ nô chỉ là một mà thôi.

Sự phát triển kinh tế công - thương nghiệp ở Bắc Mỹ cũng phát triển theo hướng Tư bản chủ nghĩa. Đến thế kỷ XVIII, công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa ở Bắc Mỹ đang trên đà phát triển. Các công trường thủ công tập trung và phân tán ở một số nơi, sự tiến bộ về kỹ thuật đã đưa sản xuất lên trình độ máy móc, nhất là ngành đóng tàu và đóng đồ gỗ ở các thuộc địa duyên hải. Công nghiệp dệt tơ, dệt vải, đường, giấy, nấu rượu được mở mang nhanh chóng.

   Sự phát triển nhanh chóng các ngành công thương nghiệp của Bắc Mỹ làm cho giai cấp thống trị Anh lo ngại. Nhiều đạo luật được ban hành nhằm ngăn chặn sự phát triển kinh tế ở Bắc Mỹ dẫn tới làn sóng bất mãn trong tầng lớp tư sản ở thuộc địa và chủ đồn điền. Mâu thuẫn về kinh tế giữa thuộc địa và chính quốc ngày càng sâu sắc và trở thành một trong những nguyên nhân dẫn tới cuộc chiến tranh giành độc lập.

1.2.3.2. Nguyên nhân, diễn biến chính của cách mạng

* Nguyên nhân:

Chính sách thống trị của Anh: đi đôi với những chính sách cản trở về kinh tế, giai cấp thống trị Anh còn thi hành nhiều biện pháp chính trị nhằm ngăn cản sự liên kết giữa các thuộc địa. Áp dụng chính sách “chia để trị” 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ có chế độ khác nhau và hình thức thống trị khác nhau nhưng các thuộc địa đều phải tuân theo luật lệ của nước Anh.

Sự hình thành dân tộc tư sản Bắc Mỹ: một trong những yếu tố quyết định sự hình thành dân tộc Bắc Mỹ chính là sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhờ đó, nó có khả năng tự chủ tăng cường mối liên hệ với nhau và hình thành thị trường dân tộc. Sự trao đổi buôn bán giữa các thuộc địa, sự thống nhất về giá cả, tín dụng và luật lệ mậu dịch, việc xây dựng đường sá, thiết lập trạm bưu điện, tăng cường sợi dây liên hệ giữa các địa phương, tạo điều kiện cho nó trở thành một khối cộng đồng kinh tế - trên cơ sở đó quan hệ giữa nhân dân các khối thuộc địa ngày càng gắn bó, có chung một yêu cầu chính trị và đoàn kết tương trợ nhau. Cùng với sự phát triển kinh tế, là sự phát triển văn hóa, sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chung… Yêu cầu bức thiết của 13 thuộc địa là được tự do phát triển sản xuất, buôn bán, mở mang kinh tế về phía Tây. Mặc dầu dùng mọi thủ đoạn kinh tế và chính  trị, giai cấp tư sản Anh vẫn không thể nào ngăn cản được sự hình thành của chủ nghĩa dân tộc ở Bắc Mỹ. Cộng đồng cư dân Bắc Mỹ cùng liên kết và ngày càng mong muốn thoát ly khỏi nước Anh.

Mâu thuẫn sâu sắc giữa thuộc địa và chính quốc: Sự lớn mạnh của sức sản xuất và sự phát triển của các thuộc địa làm cho mâu thuẫn giữa thuộc địa và các chính quốc ngày càng thêm gay gắt. Chế độ nô lệ da đen, sự bóc lột làm thuê da trắng, những nhân tố kinh tế phong kiến, chính sách thống trị chia rẽ và ngu dân  là những trở lực ngăn cản sự phát triển của Bắc Mỹ, gây nên làn sóng bất mãn trong các tầng lớp xã hội. Họ đấu tranh đòi ruộng đất, đòi độc lập về kinh tế và thống nhất về chính trị. Những chính sách của chính quốc không chỉ đối lập với quần chúng nhân dân mà còn va chạm nghiêm trọng tới quyền lợi của giai cấp tư sản và chủ đồn điền.

Nhằm ngăn ngừa sự lớn mạnh của công thương nghiệp ở các thuộc địa, chính phủ Anh đã ban hành nhiều đạo luật hết sức vô lý bởi vậy càng khoét sâu mâu thuẫn giữa thuộc địa Bắc Mỹ với chính quốc Anh. Đầu những năm 70 của thế kỷ XVIII, quan hệ giữa chính quốc và thuộc địa trở nên hết sức căng thẳng. Chính phủ Anh tăng cường quân đội sang Bắc Mỹ và thi hành nhiều chính sách nghiêm ngặt. Nhiều nơi đã đứng dậy đấu tranh công khai chống lại quân đội Anh.

* Diễn biến chính:

Sự kiện Boston: Vụ đổ chè ở cảng Boston tháng 12/1773 là một sự kiện quan trọng đánh dấu một bước phát triển mới của tình hình. Cuối năm 1773, khi những chiếc tàu chở chè cập bến Boston thì những toán người Bắc Mỹ cải trang lọt vào bến tàu và xông lên ném những kiện chè xuống biển. Công ty Đông Ấn Anh bị thiệt 18 ngàn đồng bảng Anh trong vụ này. Bọn cầm quyền Anh ở London lợi dụng sự kiện đó chuyển sang tấn công, tuyên bố để tiến hành chiến tranh để “trừng phạt những người phiến loạn”. Mùa xuân năm 1774 cảng Boston bị đóng cửa, hàng hoá ngưng trệ, các nhà máy bị tê liệt. Hàng ngàn công nhân, thợ thủ công và ngư dân bị thất nghiệp. Sự kiện Boston trở thành mồi lửa để thổi bùng cuộc cách mạng của 13 bang thuộc địa.


Hội nghị lục địa lần thứ nhất từ ngày 5/9 - 26/10/1774 ở Philadenphia. Hội nghị thông qua bản “Tuyên ngôn về các quyền hạn” phản đối chế độ chuyên chế và đòi huỷ bỏ những trở ngại đối với công thương nghiệp, yêu cầu vua Anh bãi bỏ chính sách hạn chế công thương nghiệp. Đại hội thông qua quyết nghị tẩy chay hàng Anh. Vua Anh không những không chấp nhận bản tuyên ngôn mà còn ban hành những đạo luật cấm Bắc Mỹ buôn bán với các nước khác, cấm ngư dân đánh cá ven biển, tuyên bố các thuộc địa “nổi loạn” và điều quân sang Bắc Mỹ. Các thuộc địa Bắc Mỹ đứng trước ngưỡng cửa của cuộc chiến tranh cách mạng, chống thực dân Anh giành độc lập. Tháng 4-1775 chiến tranh bùng nổ.

Hội nghị lục địa lần thứ II (1775) ngày 10-5-1775: nhằm mục đích giải quyết những vấn đề cụ thể của chiến tranh, xác định quyền độc lập, tự do của Bắc Mĩ. Hội nghị quyết định thành lập “Quân đội lục địa”, bổ nhiệm Washington - sĩ quan người Virginia làm chỉ huy. Hội nghị kêu gọi nhân dân tự nguyện tham gia đóng góp xây dựng quân đội. Chính quyền Anh quyết tâm đàn áp thuộc địa, tăng cường quân đội. Chúng tuyên bố dùng chính sách vũ lực phong toả lục địa, thông qua ngân sách chiến tranh.

Tuyên ngôn độc lập của Hợp chúng quốc Mĩ (1776): Sau một thời gian tranh cãi, bản Tuyên ngôn độc lập được thông qua ngày 4/7/1776. Một quốc gia mới - Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã ra đời với nền độc lập của mình. Tuyên ngôn độc lập là bản tuyên bố đầu tiên về quyền của con người.  Nội dung tiến bộ đó phản ánh thời đại của nó ra đời là thời đại của cao trào cách mạng. Nó tấn công vào chế độ phong kiến và chế độ quân chủ, đòi hỏi thiết lập một chế độ dân chủ tư sản. Tuyên ngôn còn bộc lộ nhiều hạn chế, nhưng trong điều kiện lịch sử lúc đó, Tuyên ngôn là một văn kiện mang tính chất tiến bộ rõ rệt và có tiếng vang rất lớn, được hoan nghênh ở khắp châu Âu là nơi đang âm ỉ ngọn lửa đấu tranh chống chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến. Ngày 7/10/1776, Hội nghị thông qua bản “Các điều khoản của Liên bang” nêu lên một quy chế đầu tiên của Liên bang.

Chiến thắng Saratoga ngày 17 - 10 – 1777, tạo ra bước ngoặt cuộc chiến, làm cho ưu thế của Mỹ trên trường quốc tế được đề cao. Pháp và Tây Ban Nha công khai ủng hộ Mỹ làm cho Anh rất hoảng sợ phải cầu cứu Nga, nhưng Nga từ chối. Nước Anh bị cô lập  trên mặt biển. Điều đó có ảnh hưởng đến quá trình chiến tranh.


Chiến thắng Yorktown đã giáng đòn quyết định, giành thắng lợi cuối cùng buộc Anh phải ngồi vào bàn đàm phán. Cuộc đàm phán kéo dài trong khoảng 1782 - 1783 tại Versailles đã tạo nên về mặt pháp lý một cơ sở chính trị cho việc chấm dứt chiến tranh. Hiệp ước Versailles đánh dấu tháng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của nhân dân Bắc Mĩ. Nó tuyên bố sự thắng lợi của một cuộc cách mạng mở đường cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển. Một quốc gia mới ở Bắc Mĩ ra đời, đó là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (United States of America) mà ta thường gọi là nước Mĩ hoặc Hoa Kì. Ngày 14/1/1784, quốc hội Liên bang đã phê chuẩn hiệp ước trên.

Cuộc chiến tranh kết thúc, mâu thuẫn giai cấp vốn có ở trong nước bùng lên dữ dội, đời sống của nhân dân lao động không những không hề được cải thiện. Tình trạng đó làm cho mâu thuẫn giai cấp gay gắt và dẫn tới nhiều cuộc khởi nghĩa.

1.2.3.3. Kết quả, tính chất, ý nghĩa lịch sử

* Kết quả:

Theo Hiệp ước Versailles đã kí ngày 3-9-1783, nước Anh phải thừa nhận chủ quyền và nền độc lập quốc gia của Hợp chúng quốc Mỹ có biên giới kéo dài đến sông Mississippi và từ biên giới Canada đến Florida.

Năm 1787, thông qua Hiến pháp, nước Mỹ là một Cộng hoà liên bang được tổ chức theo “tam quyền phân lập”, George Washington làm tổng thống đầu tiên. Hiến pháp Mỹ năm 1787 ra đời sau khi cuộc chiến tranh giành độc lập kết thúc mang tính chất tư sản rõ rệt.

* Tính chất, ý nghĩa lịch sử

Cuộc chiến tranh giành độc lập đã đập tan chế độ thực dân Anh, không chỉ là cuộc giải phóng dân tộc mà còn là cuộc cách mạng tư sản nhằm phá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với sự phát triển của sức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Đồng thời, nó còn tạo điều kiện thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hình thành dân tộc Mỹ. Sự ra đời của nhà nước Hợp chúng quốc Mỹ đánh dấu thắng lợi vẻ vang đó.

Cách mạng tư sản Mỹ là cuộc cách mạng tư sản góp phần thúc đẩy cách mạng chống phong kiến ở châu Âu, phong trào đấu tranh giành độc lập ở Mĩ La-tinh cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XX

* Hạn chế:

Lực lượng quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng là quần chúng nhân dân. Các tầng lớp nhân dân lao động đã đóng góp phần quyết định. Những người nô lệ da đen có vai trò rất quan trọng. Họ tham gia nhiệt tình vào các cuộc cách mạng. Nhưng quyền lãnh đạo cách mạng ở trong tay giai cấp đại tư sản và chủ nô, chủ đồn điền. Cho nên những nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng tư sản dân chủ không được giải quyết triệt để. Chế độ nô lệ vẫn được duy trì chế độ bóc lột nô lệ, chính sách phân biệt chủng tộc đã chà đạp lên nhân phẩm và cuộc đời của họ.

5/10/21

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ AN NINH CHUNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU.

 

 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ AN NINH CHUNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU.

Một quốc gia hay một tổ chức, một liên minh mạnh trước hết phải có một chính sách đối ngoại mạnh, hoàn chỉnh, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và hiệu quả. Chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu sau chiến tranh lạnh đến nay, thực tế, là một chính sách đối ngoại mạnh, hiệu quả và được hoàn chỉnh, phù hợp theo thời gian. Có lẽ vì thế mà đã từ lâu nay, bên cạnh các cường quốc trên thế giới là Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản đã luôn tồn tại một “cường quốc đặc biệt” – Liên minh châu Âu. Chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu sau chiến tranh lạnh được chia làm ba giai đoạn như sau: Chính sách dựa trên Hiệp ước Masstricht; Chính sách châu Á mới; Chính sách đối ngoại sau sự kiện 11-9.

 Nếu như trong thời kỳ chiến tranh lạnh, chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu là giữ cho châu Âu có một nền hoà bình lâu bền và về cơ bản là hoà bình với Mỹ thì từ sau chiến tranh lạnh, chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu được điều chỉnh qua Hiệp ước Masstricht (Hà Lan) 7-2-1992. Hiệp ước này xác định chính thức các vấn đề liên quan đến khối đồng tiền chung duy nhất châu Âu, cơ chế vận hành các thể chế châu Âu, chính sách đối ngoại và an ninh chung, chương trình hợp tác chung, trương trình hợp tác tư pháp. Hiệp ước có hiệu lực từ ngày 1-1-1993. Chính sách này quy định rõ ràng đối với toàn bộ châu Âu và thế giới.

Thứ nhất, đối với châu Âu, các nước liên minh châu Âu đặt ra các mục tiêu chiến lược là: Xây dựng một châu Âu thống nhất, không ranh giới với một nền kinh tế ổn định và phát triển cao; Tăng cường an ninh của liên minh và của các nước thành viên dưới mọi hình thức.  Để đạt được các mục tiêu chiến lược này, các nước Liên minh châu Âu nêu ra một số biện pháp thực hiện. Các biện pháp này nhằm đẩy mạnh các quan hệ giữa liên minh với toàn bộ các nước trong khu vực.

Biện pháp thứ nhất là xây dựng một “Liên bang châu Âu” hay ngôi nhà chung châu Âu. Ý tưởng này đã có từ lâu và đến năm 1992 Hiệp ước Masstricht, thông qua nhiều nội dung, đã đánh dấu những nỗ lực thống nhất châu Âu của họ. Trước hết là việc thành lập liên minh kinh tế tiền tệ. Liên minh sẽ dùng đồng tiền chung từ ngày 31-12-1996. Tuy vậy nếu đến cuối năm 1997 vẫn chưa thực hiện được việc này thì bắt buộc phải dùng đồng tiền thống nhất từ ngày 1-1-1999[1]. Điều đó giúp cho châu Âu sẽ đạt tới sự tiến bộ cân đối về kinh tế và xã hội, tạo cho Liên minh châu Âu một không gian chung, một sân chơi chung rộng lớn.

Mặt khác, để tiến tới một châu Âu thống nhất, Liên minh châu Âu tập trung vào việc thiết lập ba vành đai kinh tế: Các nước trong cộng đồng châu Âu, Hiệp hôi mậu dịch tự do châu Âu và một số nước Đông Âu. Trong đó cộng đồng châu Âu là vành đai hạt nhân của Liên minh. Xây dựng được ba vành đai này, Liên minh châu Âu sẽ có cơ sở để thống nhất châu Âu.

Tuy vậy, điều quan trọng hơn để đi đến thống nhất châu Âu là các quốc gia châu Âu phải có hành động chung. Việc xác định trong trường hợp nào các nước có hành động chung được trao trách nhiệm chủ yếu cho Hội đồng Bộ trưởng. Theo đó, các nhà nước thành viên Liên minh châu Âu không được tiến hành bất cứ hoạt động nào đi ngược lợi ích chung của Liên minh. Như vậy các quốc gia thành viên sẽ cùng hành động trong một khuôn khổ chung, vì một lợi ích chung của Liên minh.

Biện pháp thứ hai là thiết lập một nền an ninh chung châu Âu. Trước hết các nước Liên minh châu Âu phải xác định được một chính sách quốc phòng chung và khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ xây dựng một nền quốc phòng chung.

Một tổ chức giữ gìn an ninh châu Âu đã được thành lập, đó là tổ chức “An ninh và hợp tác châu Âu” (OSCE). Về lâu dài, tổ chức này có thể nắm quyền kiểm soát toàn châu Âu. Dù OSCE hầu như không có quyền lực hành chính nhưng OSCE đã nổi lên như một diễn đàn thực sự được tín nhiệm và như là người trọng tài để giải quyết các xung đột, các rắc rối xảy ra ở lục địa châu Âu.

Bên cạnh đó, để thiết lập nền an ninh châu Âu, các nước Liên minh châu Âu cũng như liên bang châu Âu thiết lập quốc tịch liên bang. Nghĩa là: Bất cứ công dân nào của liên bang cũng đều có quyền tự do đi lại và sinh sống trên lãnh thổ của các nước thành viên; Công dân liên bang cũng có quyền bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử cấp địa phương và bầu cử Nghị viện châu Âu khi công dân đó đang sống ở một nhà nước thành viên khác.

 Thứ hai, đối với các nước khác trên thế giới, các nước Liên minh châu Âu thống nhất những mục tiêu: Giữ gìn hoà bình, tăng cường an ninh quốc tế phù hợp với các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc và những nguyên tắc của định ước Helxinki; Khuyến khích hợp tác quốc tế. Các biện pháp mà Liên minh châu Âu sử dụng để thực hiện những mục tiêu này là:

Để giữ gìn hoà bình, tăng cường an ninh quốc tế, các nước Liên minh châu Âu khẳng định trong quan hệ quốc tế phải tuân thủ theo những nguyên tắc mà Hiến chương Liên Hợp Quốc đã thông qua từ năm 1945. Đó là các nguyên tắc: Bình đẳng về chủ quyền giữa các nước; Tôn trọng và làm tròn nghĩa vụ quốc tế; Giải quyết hoà bình và các tranh chấp quốc tế; Từ bỏ dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế chống lại toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của các quốc gia.

Mặt khác, để thực hiện mục tiêu giữ gìn hoà bình an ninh quốc tế, các nước Liên minh châu Âu cam kết thực hiện Đinh ước Henxinki (Phần Lan) 1-8-1975. Về cơ bản, những nguyên tắc của Định ước Henxinki giống các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc. Song Định ước có đề cập thêm một nguyên tắc là không quốc gia nào được vi phạm biên giới của các quốc gia khác.

Trong chính sách đối ngoại của mình, Liên minh châu Âu coi mục tiêu khuyến khích hợp tác quốc tế là hết sức quan trọng, vì Liên minh cần thiết phải có sự hợp tác đa phương, đa dạng với các nước trên thế giới. Quan hệ hợp tác giữa liên minh châu Âu với các nước tập trung vào ba nhóm chính: Các nước công nghiệp phát triển; Các nước Đông Âu và Liên Xô cũ; Các nước đang phát triển. Trong bối cảnh chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu còn đang trong quá trình xây dựng, quan hệ của Liên minh với ba nhóm nước này chủ yếu dựa trên cơ sở của sự hợp tác về thương mại và về những liên kết chung.

Như vậy, nội dung chính sách đối ngoại giai đoạn đầu sau chiến tranh lạnh của Liên minh châu Âu chủ yếu tập trung vào giải quyết những vấn đề bức xúc nhất, cần thiết nhất. Đó là việc nhất thể hoá một châu Âu để có thể đối mặt với những vấn đề đặt ra: Bình ổn nội khối, suy thoái về kinh tế, khả năng hợp tác cũng như phòng thủ tập thể kém, hay các vấn đề về xung đột… Mặc dù chính sách đối ngoại này của Liên minh châu Âu còn đang trong quá trình xây dựng và chưa hoàn thiện, nhưng có thể thấy, trong giai đoạn đầu của quá trình hợp nhất châu Âu, Liên minh châu Âu cũng đã đưa ra được một chính sách đối ngoại hợp lý, hiệu quả. Và dù chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu sau này có được bổ sung hay hoàn chỉnh hơn cho hợp với xu thế mới, thì chính sách đối ngoại dựa trên Hiệp ước Masstricht vẫn được xem như là nền tảng quan trọng cho những công trình được xây dựng sau này.

 Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, bên cạnh sự suy tàn của Liên Xô, sự hiện diện mờ nhạt của Mỹ ở khu vực châu Á là cơ hội bành trướng của Trung Quốc và sự gia tăng vai trò của Nhật Bản trong khu vực. Bên cạnh Đông Á và một Đông Nam Á đang phát triển năng động là một thị trường châu Âu đang bị bão hoà và có nguy cơ tụt hậu so với Mỹ và Nhật Bản. Mặc dù mảnh đất châu Á trước đây chưa từng là mối quan tâm của Liên minh châu Âu nhưng xuất phát từ nhu cầu lợi ích của mình, Liên minh châu Âu đã đề ra “Chính sách châu Á mới”. Ngày 14-7-1994 Uỷ ban châu Âu công bố “Chiến lược mới hướng tới châu Á”, trong đó nhấn mạnh Liên minh châu Âu cần phải tiến hành “đối thoại rộng rãi hơn nữa” nhằm xây dựng mối quan hệ “bạn bè có tính xây dựng” với châu Á.

Chiến lược châu Á mới xác định được bốn mục tiêu tổng quát và lĩnh vực cho sự xuất hiện ở châu Á của Liên minh châu Âu. Bốn mục tiêu đó là: Tăng cường sự hiện diện kinh tế tại châu Á để duy trì vai trò dẫn dắt của Liên minh châu Âu trong nền kinh tế thế giới; Đóng gớp cho sự ổn định ở châu Á thông qua tiếp xúc hợp tác kinh tế và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau; Thúc đẩy sự hợp tác kém phồn vinh trong khu vực; Đóng góp cho sự phát triển và củng cố dân chủ, cai quản bằng pháp luật, tôn trọng quyền con người và các quyền tự do cơ bản khác ở châu Á.

Sự phát triển nhanh chóng của Đông Á đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế của Liên minh châu Âu thoát khỏi khó khăn. Khi mà thị trường châu Âu đang bị bão hoà thì một thị trường mới, năng động ở châu Á, đặc biệt là Đông Á, được xem như là một lựa chọn thích hợp cho Liên minh châu Âu. Bên cạnh đó, thời gian này Mỹ và Nga cũng giảm bớt sự hiện diện quân sự trực tiếp ở châu Á, một khoảng trống quyền lực xuất hiện ở khu vực. Trong khi đó, lịch sử đã cho thấy, châu Á, dù muốn hay không, luôn cần có sự hiện diện của một cường quốc bên ngoài để duy trì sự cân bằng chiến lược giữa các nước trong khu vực đối lập nhau. Do đó việc Liên minh châu Âu xuất hiện ở đây không chỉ nhằm tạo lập mối quan hệ về kinh tế mà còn nhằm tăng cường, phát huy được vai trò của mình ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương cả về chính trị và quân sự. Phát triển quan hệ với châu Á, Liên minh châu Âu sẽ đảm bảo lợi ích của mình ở khu vực này và do đó tạo được đối trọng với các nước trong khu vực này như Trung Quốc, Nhật Bản… qua đó duy trì mục đích hàng đầu là vị trí dẫn đầu trong nền kinh tế thế giới.

Chính sách châu Á mới, như vậy, là một sự điều chỉnh phù hợp trong chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu trong sự nổi lên mạnh mẽ của châu Á. Chính sách này đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của Liên minh không chỉ về kinh tế mà còn bước đầu đánh dấu vai trò của Liên minh trong đời sống chính trị, quân sự thế giới.

 Trong sự phát triển của quan hệ quốc tế, những vấn đề phi truyền thống nảy sinh như một tất yếu. Một trong số đó là vấn đề khủng bố. Đặc biệt, sau khi sự kiện 11-9-2001 xảy ra, Liên minh châu Âu không thể đứng ngoài cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. Chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu dành ưu tiên hàng đầu cho cuộc chiến này. Đấu tranh chống khủng bố luôn là mối quan tâm bao trùm trong các chương trình nghị sự chính thức và không chính thức của Liên minh châu Âu. Liên minh châu Âu đưa ra các biện pháp hợp tác chống khủng bố: Tuyên bố lệnh bắt giữ toàn châu Âu; Chia sẻ thông tin tình báo; Tăng cường an ninh hàng không, hàng hải; Đồng thời Liên minh cũng ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố.

Ngoài việc chính sách đối ngoại được điều chỉnh tập trung vào chống khủng bố, Liên minh châu Âu còn có những điều chỉnh chính sách trong quan hệ với các quốc gia, khu vực trên thế giới, đặc biệt là Nga, Mỹ và khu vực Trung Á.  Xin đưa ra đây một số điều chỉnh tiêu biểu của Liên minh châu Âu trong quan hệ với hai đối tác lớn là Nga và Mỹ.

Trong quan hệ với Nga, hội nghị cấp cao giữa Liên minh châu Âu và Nga họp tại Matxcova tháng 5-2002 thông qua tuyên bố chung nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ đối tác chiến luợc Liên minh châu Âu – Nga. Theo đó, Liên minh châu Âu chính thức công nhận Nga là nước có nền kinh tế thị trường tự do. Sự thừa nhận này được xem như “giấy thông hành” không chỉ để hàng hoá Nga thâm nhập một cách bình đẳng vào thị trường các nước Liên minh châu Âu mà còn là điều kiện để Nga đàm phán gia nhập WTO. Không dừng lại ở đó, quan hệ hai bên còn có những bước tiến dài trong lĩnh vực chính trị, an ninh, quân sự. Điểm đặc biệt quan trọng là Liên minh châu Âu đã thay đổi thái độ về vấn đề Tresnia của Nga[2], trong khi trước đó không lâu cũng chính Liên minh này đã đi đầu trong việc công khai lên án rồi tuyên bố cấm vận để trừng phạt Nga về việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề Tresnia.

Trong quan hệ với Mỹ, mặc dù hai bên còn có những bất đồng về một số vấn đề như: Mỹ không phê chuẩn Nghị đinh thư Kyoto, Mỹ rút khỏi Hiệp ước ABM, hay việc Liên minh châu Âu chỉ chích Mỹ quay về chủ nghĩa biệt lập… Liên minh châu Âu đã gạt sang một bên những mâu thuẫn này để sát cánh cùng Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố. Có thể thấy, trong cuộc chiến ở Afghanistan do Mỹ dẫn đầu, quân đoàn châu Âu đã tham gia với một lực lượng hùng hậu gồm 60.000 quân từ các nước Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Bỉ và Luxemburg[3].

Có thể thấy, sau sự kiện 11-9, chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu không còn dừng lại ở việc hoạch định ra một chính sách nhằm thống nhất châu Âu. Chính sách đối ngoại này cũng không chỉ dừng lại ở việc xác định một “Chính sách châu Á mới” có lợi cho sự phát triển của Liên minh. Chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu đã chuyển sang một trang mới: Liên minh châu Âu đã có những hành động trong lĩnh vực chính trị, quân sự trong quan hệ quốc tế. Tầm ảnh hưởng của Liên minh trong đời sống thế giới, có thể nói, đã không chỉ dừng lại ở lĩnh vực kinh tế mà còn tràn sang các lĩnh vực chính trị, quân sự. Liên minh châu Âu cũng đã có uy tín trên trường quốc tế chứ không phải chỉ ở khu vực.

Dù vậy nếu chỉ nhìn Liên minh châu Âu dưới lăng kính chính sách đối ngoại và an ninh chung có thể sẽ không đánh giá đúng vị trí cũng như vai trò của Liên minh này trong quan hệ quốc tế hiện nay. Liên minh châu Âu còn thực sự là một tác nhân quan trọng trong quan hệ quốc tế.



[1] “Chính sách đối ngoại của các nước sau chiến tranh lạnh” (tr 70 – 71). Th.S Nguyễn Xuân Phách. Hà Nội 2000.

[2] “Nghiên cứu châu Âu – European Studies Review” (tr42)  Số 6(54).2003.

Các trường phái cơ bản trong nghiên cứu QHQT

 

Các trường phái trong nghiên cứu QHQT


Chủ nghĩa tự do (liberalism)
hay cách “tiếp cận tự do” là một trong những trường phái quan trọng nhất trong lý thuyết quan hệ quốc tế. Xuất hiện từ thời kỳ cải cách tôn giáo thế kỷ 16 ở Châu Âu, chủ nghĩa tự do đã phát triển thành một trường phái gồm nhiều nhánh tư tưởng khác nhau mặc dù cùng chung những giả định cơ bản. Theo đó, chủ nghĩa tự do đề cao vai trò của các cá nhân, hạn chế vai trò của nhà nước, nhấn mạnh nguyên tắc thượng tôn pháp luật đồng thời bảo vệ các quyền tự do dân sự cá nhân, quyền sở hữu tư nhân… Theo đó, đối với chính trị trong nước, chủ nghĩa tự do cho rằng các chính thể cần tôn trọng và bảo vệ quyền tự do của các cá nhân, đặc biệt là các quyền tự do dân sự, đồng thời hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động của nền kinh tế.


Chủ nghĩa tân tự do
(neo-liberalism), còn được biết đến với tên gọi “chủ nghĩa tự do thể chế” (institutional liberalism), là một dòng nghiên cứu quan trọng trong các lý thuyết quan hệ quốc tế. Chủ nghĩa tân tự do ra đời trong những năm 1980, khi hợp tác giữa các quốc gia trở thành xu thế chủ đạo của chính trị quốc tế. Khác với trường phái tự do cổ điển tập trung vào câu hỏi chiến tranh hay hòa bình, chủ đề chính của chủ nghĩa tân tự do là các thể chế, định chế, quy tắc, luật pháp quốc tế và sự tương tác của các yếu tố này với lựa chọn chính sách của mỗi nhà nước.

Chủ nghĩa hiện thực, bên cạnh chủ nghĩa tự do, là một trong hai trường phái lý thuyết quan trọng nhất trong quan hệ quốc tế, được hình thành từ lâu đời và có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với tư duy hoạch định chính sách đối ngoại của các quốc gia. Chủ thể chính trong hệ thống quốc tế là các quốc gia – dân tộc có chủ quyền trong khi các chủ thể khác như các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các công ty đa quốc gia, các nhóm hay các cá nhân không có vai trò đáng kể. Về bản chất, hệ thống quan hệ quốc tế là một hệ thống vô chính phủ, không tồn tại một quyền lực đứng trên các quốc gia nhằm điều chỉnh và quản lý mối quan hệ giữa họ với nhau.

Chính vì vậy mục tiêu của các quốc gia là tìm cách nâng cao quyền lực nhằm tự đảm bảo an ninh và sự tồn tại của mình trong hệ thống thông qua việc cố gắng giành được càng nhiều nguồn lực càng tốt. Điều này dẫn tới việc các quốc gia luôn ở trong thế cạnh tranh và đối đầu lẫn nhau (trong nhiều trường hợp dưới hình thức chiến tranh, xung đột vũ trang) nhằm theo đuổi lợi ích quốc gia dưới dạng quyền lực, khiến cho các quốc gia không thể duy trì việc hợp tác một cách lâu dài.

Chủ nghĩa hiện thực cổ điển

Cũng cho rằng các quốc gia luôn tìm cách theo đuổi quyền lực nhưng chủ nghĩa hiện thực cổ điểncho rằng chính bản chất ích kỷ, ham muốn quyền lực của con người đã khiến các quốc gia và các cá nhân đặt lợi ích dưới dạng quyền lực lên trên các giá trị khác. Nói cách khác, chủ nghĩa hiện thực cổ điển nhấn mạnh cấp độ phân tích cá nhân trong chính trị quốc tế. Theo đó, Hans Morgenthaus, một trong những học giả chủ chốt của tư tưởng hiện thực cổ điển nhận xét rằng con người, tự bản thân nó, là con người của quyền lực, thể hiện qua việc chiếm đoạt hay tích lũy các nguồn lực để đạt đến mục đích cá nhân của mình. Dưới góc nhìn xã hội học, xu hướng theo đuổi quyền lực là nguyên tắc có thể tìm thấy trong mọi kết cấu tổ chức giữa người với người: từ nhà thờ cho tới các hội đoàn. Nơi nào có các nhóm liên kết giữa các cá nhân thì nơi đó xuất hiện các cuộc chiến giành quyền lực. Vì vậy, các quốc gia theo đuổi quyền lực và chiến tranh xảy ra giữa các quốc gia bắt nguồn từ bản chất ích kỷ, ham muốn quyền lực của con người, đặc biệt là cá nhân các nhà lãnh đạo.

Chủ nghĩa tân hiện thực

Khác với chủ nghĩa hiện thực cổ điển nhấn mạnh cấp độ phân tích cá nhân, chủ nghĩa tân hiện thực nhấn mạnh cấp độ phân tích hệ thống quốc tế khi phân tích nguyên nhân các quốc gia tìm cách theo đuổi quyền lực. Theo đó, các nhà tân hiện thực cho rằng trong một hệ thống vô chính phủ, sự phân bổ quyền lực tương đối giữa các quốc gia trong hệ thống chính là yếu tố then chốt đối với an ninh của mỗi quốc gia. Vì thế các quốc gia tìm cách nâng cao quyền lực, vì càng có nhiều quyền lực thì vị trí của nước đó trong hệ thống thế giới càng cao và an ninh của quốc gia đó càng được đảm bảo.


Chủ nghĩa kiến tạo
lại cho rằng bản sắc, các chuẩn tắc, niềm tin và các giá trị cũng mang tính cấu trúc và tạo nên ảnh hưởng mạnh mẽ lên các hoạt động chính trị – xã hội. Chủ nghĩa kiến tạo nhấn mạnh rằng tầm quan trọng của những cấu trúc chuẩn tắc tương đương nếu không nói là vượt trội hơn so với cấu trúc vật chất. Theo các nhà kiến tạo, mỗi quốc gia có một bản sắc quốc gia, hay cách quốc gia đó nhận thức về bản thân mình, và bản sắc quốc gia này giúp định hình các mục tiêu mà quốc gia đó theo đuổi, như an ninh, chính sách đối ngoại hay phát triển triển kinh tế. Tuy nhiên cách thức mà các quốc gia hiện thực hóa các mục tiêu này như thế nào lại phụ thuộc vào bản sắc xã hội, hay là cách các quốc gia nhận thức về bản thân mình trong mối quan hệ với các quốc gia khác trong xã hội quốc tế. Các quốc gia sẽ xác định lợi ích quốc gia của mình dựa trên cơ sở là những bản sắc này.

Bài mở đầu Quan hệ Quốc tế

 

Quan hệ quốc tế là mối quan hệ giữa các quốc gia đều có chủ quyền. Mỗi quốc gia đều có quyền quyết định tối cao và tự do. Các quốc gia không ở dưới một uy quyền nào và đối nghịch với nhau, sử dụng quyền lực để thực hiện các mục tiêu và thoả mãn các quyền lợi của quốc gia mình. Quan hệ quốc tế có thể bao gồm nhiều vấn đề như kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.

- Quan hệ quốc tế là tổng thể những mối quan hệ về kinh tế, chính trị, tư tưởng, luật pháp, ngoại giao, quân sự…giữa những quốc gia & hệ thống quốc gia với nhau, giữa các giai cấp chính, các lực lượng tổ chức xã hội, kinh tế và chính trị chủ yếu hoạt động trên trường quốc tế (QHQT sau CTTG II. Nxb CTQG, 1962, tr.26).

- Quan hệ quốc tế là hiện tượng xã hội, song là loại quan hệ xã hội có đặc điểm riêng nảy sinh trong quá trình hoạt động của con người liên quan đến môi trường quốc tế. Quan hệ quốc tế này vượt khỏi biên giới quốc gia, có những thay đổi và trở nên vô cùng phức tạp, bởi trong môi trường quốc tế có các cơ chế hoạt động và luật chơi hoàn toàn khác với cơ chế trong nội bộ quốc gia (Vũ Dương Huân, Bản chất và đặc thù của quan hệ quốc tế, Nghiên cứu quốc tế, số 3, 9/2010).

- Quan hệ quốc tế là tất cả các loại hình trao đổi hoạt động, là đối tượng quan hệ giữa các quốc gia và giữa các trao đổi của cá nhân (Krapchenko, Liên Xô).

Chính trị quốc tế là một khía cạnh trong mối quan hệ giữa các quốc gia, trong đó quyền lực được sử dụng để kiểm soát, ảnh hưởng đến hành động của những quốc gia khác và những quốc gia này có quyền lợi đối nghịch nhau nên cũng phải sử dụng quyền lực để chống lại.

Những đặc điểm của Quan hệ quốc tế:

+ Sự tranh giành quyền lực, can thiệp, dính líu vào nước khác

+ Sự duy trì hiện trạng thế giới theo hướng có lợi cho mình.

Những động lực xâm lược của các quốc gia[1]:

+ Địa lý: nới rộng diện tích quốc gia với những lí do như nhu cầu đất sinh sống hoặc mở rộng theo ranh giới tự nhiên.

+ Kinh tế: tìm kiếm lợi ích về tài nguyên, thị trường và cơ hội đầu tư.

+ Chiến lược: xâm lược để đặt quyền kiểm soát ở các địa điểm chiến lược để phòng thủ hay xây dựng các căn cứ tấn công vào các quốc gia lân cận

+ Ý thức hệ: dùng một chính kiến thượng đẳng để biện giải việc bành trướng quyền lực của mình ở các quốc gia nhược tiểu hoặc đối lập.

+ Quyền lực: là nhân tố thúc đẩy các quốc gia kết hợp lại với nhau bởi nhiều nhóm người rộng lớn.

+ Ý tưởng dựa vào những cuộc xâm lược để củng cố an ninh quốc gia. Đó có thể là cách để củng cố vị trí và đảm bảo sinh tồn của quốc gia.

+ Sự hiện diện của giới thượng lưu hiếu động: một số cá nhân hay một nhóm người có thể vì lí do riêng mà chủ trương bành trướng. ngoài ra, họ còn dùng ảnh hưởng của mình để khuyến khích hành động xâm lược.

+ Tìm kiếm sự ủng hộ của dân chúng: chiến thắng ngoại bang gây được tình cảm dân chúng, củng cố lòng tự hào quốc gia và tăng thêm sức ủng hộ cho người lãnh đạo chính phủ.

Trên đây là 8 nguyên nhân để các nước đẩy mạnh quá trình xâm lược, bành trướng lãnh thổ cũng như khẳng định vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.

Nghiên cứu Quan hệ quốc tế, chúng ta chú trọng vào nội dung chính trị quốc tế. Sự can thiệp, dính líu hay duy trì hiện trạng…là những biểu hiện chính sách tham vọng của tất cả các quốc gia trên thế giới – mà đứng đầu là hai siêu cường: Liên Xô và Hoa Kì từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay.



[1] Andrew Gyorgy, Hubert S.Gibbs (1964), Trọng đề trong Bang giao quốc tế, Nghiên cứu Việt Nam, tr 9-10.

8/2/21

TỰ HÀO VỀ THẦY TS. PHAN VĂN HOÀNG (Năm Trần)

 Rất thay đổi TỰ HÀO về Thầy TS. PHAN VĂN HOÀNG (Năm Trần) , cả một thời Thanh xuân, Hiến hiến cho Tổ quốc. Nhân đầu xuân Tân Sửu, xin chúc thầy luôn khỏe và nhiều niềm vui trong cuộc sống.                                             

  Kỉ niệm, ngày 28 tháng Chạp, năm Canh Tý, nhằm ngày 8/2/2021.

Về căn cứ

07 Tháng Năm 2021 3:08 SA
ĐẶT TƯỜNG MINH




M ua hè năm 1972, Ông Tám Nam, Phó ban An ninh T4, gọi Trần Quới Sơn (Năm Trần) về căn cứ gấp. Lúc đó, căn cứ của ban tạm đóng trong một khu rừng thuộc vùng giải phóng Svay Rieng (Campuchia).

Khi mặt trời vừa lặn núi Bà Đen, Năm Trần rời Phước Chỉ (huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh). Cùng đi có một du trẻ, Tư An, vừa đường bảo vệ.

Tỉnh Tây Ninh ranh giới với tỉnh Svay Rieng. Nếu đi theo Quốc lộ số 1, thì chỉ cần qua cửa khẩu Mộc Bài và đi thêm khoảng cây nữa là đến căn cứ. Nhưng từ sau cuộc đảo chính tháng 3-1970 của Lon Nol lật đổ ông hoàng Sihanouk, quân đội Sài Gòn đóng thêm kiểm toán dọc biên giới hai nước, nên Năm Trần phải đi về hướng Nam, theo sông Vàm Cỏ Đông, xuống vùng Đức Hòa - Đức Huệ (tỉnh Long An) mới tìm ra đường mòn đi Svay Rieng.

Phước Chỉ nằm trong vùng giải phóng, đi lại thoải mái. Một đường chắc chắn, Năm Trần vào một nhà dân nhờ phương tiện. Chị chủ nhà không cho mượn mà còn cho mượn cả người chèo là cậu con trai khoảng tuổi của chị. Chiến tranh nhân dân ở nước ta là thế. Nhìn đôi tay cậu bé thoăn thoắt đưa các chiến sĩ đi công tác, Năm Trần nhớ đến câu hát trong Bài ca Hà Nội của nhạc sĩ Vũ Thanh: “Chiến công này có tay em” .   

Khi trời bắt đầu tối, hai người đến địa phận tỉnh Long An. Trước kia, đây là làng mạc, đồng sung túc. Khi đồng khởi động, quân đội được đưa ra, nhưng không thành công. Địch xem đây là vùng oanh tạc, tự cho mình quyền “ Giết bất cứ thứ gì động đậy” tại đó (Giết bất cứ thứ gì di chuyển) như nhan đề một cuốn sách của tác giả người Mỹ Nick Turse. Nông dân ở đây phải rời khỏi nhà, bỏ hoang đồng ruộng, chuyển sang các nơi khác. Một số thanh niên nam nữ thoát ly gia đình, vào du kích, bám đất giữ làng. Tư An is a example.  


Bià List,  bất cứ thứ gì động đậy

Gần đó có một căn cứ của địch, tối nào cũng cho những người lính đi tuần xung quanh, ngẫu nhiên để lại một vài tiểu đội phục vụ trên đường đi. Do đó hai người phải hết sức cảnh giác, quan sát kỹ thuật trước khi lên.

Close to the light, they to the sát biên giới. Địch thường phục hồi ở đây để đón lõng người qua lại. Tư An bảo Năm Trần sao chép vào bụi cây ven đường, một mình đi dò đường. Sau decim gap, Tư An quay lại, ra dấu “an toàn” để tiếp tục cuộc hành trình.

Hai biên giới khi trời vừa sáng. Nhớ lại bức ảnh đăng trên tờ báo Mỹ cách nay tròn hai năm, Năm Trần không khỏi cười. Ảnh chụp tổng thống Mỹ lên đài truyền hình trong đêm 30-4-1970 thông báo hàng vạn quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa vừa mở cuộc hành quân “Tìm và diệt” vào Vùng Mỏ Vẹt - Lưỡi Câu dọc biên giới Việt Nam - Campuchia. Ngón tay của Nixon chỉ đúng vào bến hai chiến sĩ Việt Cộng đang có mặt!


Tổng thống Nixon trong đêm 30-4-1970

Svay Rieng cũng như các biên giới khác của Campuchia bị bom đạn Mỹ cày xới trong thời gian dài, nhất là dưới thời Nixon. Trong phần phụ (Sideshow), William Shawcross cho biết: in gần 4 năm rưỡi, từ 18-3-1969 đến 15-8-1973, My đã xuống dưới 539.129 tấn bom, gấp 3,37 lần số bom Mỹ đã xuống Nhật Bản trong thế chiến II. Tác giả người Anh mô tả: những người dân Campuchia “di chuyển chậm, qua sông, gần như mất hết sức sống vì thần kinh sợ hãi, những máy bay ném bom vào họ, và đêm qua đêm khác một bom biển nặng 750 pound (tương đương 337 tấn) rơi xuống chung quanh họ ” (1) .

Mặc cho bom rơi đạn lạc, khắp nơi loang lổ đầy những hố bom dưới dạng mặt trăng, cuộc sống vẫn diễn ra. Sau khi rút gọn, người dân trở lại, dựng lại mái nhà xưa, sửa sang ruộng vườn… Đặc biệt, tại các phum sóc ở Sóc Nóc, Tà Nội, Chi Phú… có khá đông Việt kiều sinh sống hòa hợp với mọi người địa chỉ. Họ là nhân của “Cộng đồng tiền dịch”, của “quốc gia chiến lược”, của “nông thôn bình quân chương trình” và nhất là của các trận ném bom từ khi quân Mỹ tràn vào miền Nam. Tuy phải rời quê hương hát đây cảm ơn, song lòng họ luôn hướng về Tổ quốc, sẵn sàng ủng hộ sự nghiệp cứu nước. Nhiều gia đình cho con em gia nhập bộ đội, một số đã hy sinh trong chiến đấu.

Đến trước, hai người về căn cứ. Hay tin Năm Trần về, đồng đội đến thăm, hỏi han tình hình Sài Gòn…

Hôm đó bảy giờ tối, một du kích do Năm Trần đưa đến Văn phòng Ban lãnh đạo. Ông Tám Nam ra đón Năm Trần, hỏi thăm đôi điều khiển và dẫn vào tranh. Có một người lạ (Năm Trần chưa gặp bao giờ), khoảng 50 tuổi, áo thun ngắn tay mặc áo màu xanh. Không để Năm Trần ngỡ ngàng, ông Tám đã giới thiệu: “Đây là đồng chí Mười Hương, thủ trưởng mới của chúng ta”.

Sau khi ông Tư Trọng, Trưởng ban An ninh T4, cuộc gặp nạn, một phó ban được tạm dừng để làm quyền Trưởng ban. Nay ông Mười Hương chính thức được cử xuống ban chỉ đạo.

Sau khi trao đổi mấy câu về tình hình đi đường, ông Mười hỏi nhiều chuyện về Huế. Ông Tám Nam có giới thiệu “lý lịch” của Năm Trần (hoạt động rồi bị bắt giam ở Huế trước khi tiếp tục hoạt động tại Sài Gòn). Sau này, Năm Trần mới hiểu lý do tại sao: Bản thân ông Mười Hai cũng từng bị chế độ Ngô Đình Diệm bắt giam ở Huế trong gần sáu năm (1958 - 1964) tại Tòa Khâm. Sau ngày họ Ngô bị đổ, Tòa Khâm bị phá hủy để xây dựng Trường đại học Sư phạm, nơi Năm Trần ngồi học 8 năm trước. Có lẽ khi gặp Năm Trần, những kỷ niệm xưa về Huế chợt sống lại trong ký ức ông…

Có tiếng máy bay qua căn cứ. Có thể là máy bay trinh sát, cũng có thể là máy bay ném bom. Cùng một lúc, không bảo vệ ai, tất cả các ngọn đèn đều vụt tắt. Mọi người ngồi im lặng trong bóng tối, thiết bị lắng nghe từng động tĩnh. Trong khi đó, các đơn vị võ trang đã sẵn sàng đối phó với mọi tình cảm, có thể xảy ra…

Mười hai giây cân nặng trôi qua. Bay máy bay xa. Mọi người dùng đèn, tiếp tục buổi học. Ông Mười Hương nói: “Phiên bản này gọi cháu ra đây để phổ biến một số máy chủ mới của ban”.

Trong khi ông mười một cách chậm rãi, chiết xuất, Năm Trần lắng nghe như lời nói. Active active analalate an ninh mọi người chép lên giấy, mọi điều, mọi số… đều phải được “in” trong trí nhớ. Những gì ông Mười Hương nói tối hôm ấy, cách nay gần nửa thế kỷ, nhưng Năm Trần vẫn còn nhớ như mới nghe ông nói hôm qua…


Ông Mười Hương  (giữa) , ông Tám Nam  (trái) và Năm Trần trong buổi họp mặt Ban An ninh T4 tại Củ Chi sau giải phóng 

Sau Tết Mậu Thân, tôi thấy không thể thắng ở Việt Nam. Do đó, khi bước vào Nhà Trắng từ đầu năm 1969, Richard Nixon đưa ra chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh”, quân đội dần dần chinh phục Mỹ về nước, tập đoàn quân sự cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, đã từng dân Mỹ sẽ được “hòa bình trong danh sách dự án”. Năm nay, 1972, là cuối năm của nhiệm kỳ đầu tiên, Nixon cần phải làm một cái gì đó để thực hiện lời hứa đó mới mong tái đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống sẽ tổ chức vào cuối năm nay. Theo dõi trạng thái hoạt động của Nixon, trên chiến trường cũng như trên bàn hội nghị Paris, chúng tôi chủ động khuyến khích Mỹ rút quân về nước. Trước đây, Bác Hồ đã từng nói với một nhà báo Anh rằng người dân Việt Nam chúng ta sẵn sàng trải thảm đỏ để quân Mỹ rút về nước (2). Trong thơ chúc Tết năm 1969, Bác không viết: “ Đanh cho Mỹ cút, lật nhào ” mà Bác viết: “ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nhào ”. Phải chăng Bác đã tách rời hai mục tiêu của cuộc chiến “Mỹ cút” và “lao động” - để quân đội và dân chúng lần lượt giải quyết từng một.

Nhìn vào mắt Năm Trần, ông ấy thấy cậu ấy chưa thông tin lắm với cái mới chủ, nên dừng lại để hỏi ý kiến. Năm Trần thành thật bày tỏ: “Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, chúng ta đã đề ra khẩu hiệu 'đuổi Mỹ, vượt chướng ngại vật'. Sao nay lại đổi? ”.

Mr. Mười ba ôn tồn giải thích:

Một là , chế độ dựa vào Mỹ để tồn tại (3) . Một khi Mỹ rút quân, chế độ sẽ lung lay tận gốc rễ, không kịp thì sẽ sụp đổ. Một câu hỏi đặt ra: “My have quay trở lại để nghiên cứu chế độ đó?”. Rất nhiều khả năng là không! (4)

Hai là , nếu cùng lúc xảy ra vụ sập chế độ với Mỹ rút quân, các đồng minh của Mỹ sẽ chịu trách nhiệm cho tôi rằng “làm việc của tôi mà chạy” và không tin tưởng ở vai trò “lãnh đạo thế giới do ”của tôi nữa. Theo lời của Kissinger, cần có “một khoảng thời gian coi cho được” ( một khoảng vừa phải ) giữa hai sự kiện đó để tôi có thể phân bua: khi Mỹ rút quân, Thiệu vẫn còn ngồi trong Định Độc Lập mà! (5)

Ba là , phái đoàn rút ra tại Hội nghị Paris đề xuất: sau khi quân Mỹ, sẽ thành lập ở miền Nam một “Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc” gồm ba thành phần, tức là có sự tham gia gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Lực lượng thứ ba. Hội đồng này sẽ tổ chức tuyển sinh để bầu ra các cơ quan có quyền lực ở miền Nam thay thế cho chính quyền Thiệu hiện nay. (6)

Càng nghe, Năm Trần càng cảm thấy thuyết phục.

Ông nói tiếp: Dự kiến ​​tình hình của ta là như thế, song thực tế có diễn ra theo ý ta hay không, điều đó thuộc nhiều yếu tố: phản kháng của đối phương có quyết liệt hay không, đồng tình of the power of the third quality has the strong or not, and the best is the force of the Army and the people we many to where, strong to đâu. Xưa nay, một khi ta có quyết tâm cao độ thì sự nghiệp của ta chắc chắn sẽ thành công.

Ông mười hai chuyển sang trình chiếu những dự án của Ban An ninh T4 trong sáu tháng cuối năm 1972. Có nhiều tác giả mới như xây dựng các “chính trị” trong nội dung, thâm nhập Lực lượng thứ ba vv…

Anh ấy phải đi nóng lại: “Chiến sĩ An ninh phải có trái tim nóng , nhưng cái đầu tiên . Có cái lạnh đầu tiên thì bình tĩnh phân tích tình hình một cách khách hàng và khoa học, mới tìm ra hiệu quả hoạt động phương thức ”. Năm Trần thường hoạt động trong vùng địch thủ, xa căn cứ, nên ghi nhớ những lời dẫn dắt của ông Mười, xem như kim chỉ nam cho mọi hành động của mình.  

Sau hòa bình ngày và hệ thống nhất, Năm Trần thường cùng đồng đội đến nhà ông Mười Hương, 


Thủ trưởng Mười Hương  (trái)  và “binh ba” Năm Trần sau 1975

Có lần ông hỏi Năm Trần: “Cháu được phong quân hàm gì rồi?”.

Năm Trần trả lời: “Thưa chú, cháu đeo lon binh ba (7)  ạ”.

Anh ấy tự hỏi: “Bình ba? Bình ba là bậc gì? ”.

Năm Trần thưa: “Dạ, binh ba dưới binh nhì một cấp, tiếng Pháp gọi là troa dèm cùi đó ạ”.

Anh Mười Hai cười vui vẻ: “Được, làm được việc mà tốt hơn là làm ông kia mà xấu”.

Câu nói thể hiện sự quan tâm của ông Mười Hương, người hy sinh suốt đời cho sự nghiệp giúp dân mà không bao giờ nghĩ đến quyền lợi, vị trí của bản thân.


(1) William Shawcross, phụ , NXB Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1989, tr.232. 

(2) Nguyên văn câu Bác Hồ nói với nhà báo Felix Greene:  “Họ có thể ra đi bất cứ lúc nào… Chúng tôi sẽ làm mọi cách để giúp họ. Chúng tôi sẽ trải thảm đỏ cho họ ”(Họ [tức quân Mỹ] có thể rời [Việt Nam] bất cứ lúc nào… Chúng tôi sẽ làm mọi thứ mà tôi có thể làm để giúp họ. Ngay cả chúng tôi tôi sẽ trải thảm đỏ cho họ [rời khỏi Việt Nam] - Hãng thông tấn AP đưa tin, ngày 20-12-1965).

(3) Trong hồi ký của mình, Nguyên Phó Tổng thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ thừa nhận: “Mỹ kiểm soát cuộc chiến. Viện trợ Mỹ tài trợ cho nước này [chỉ VNCH]; không có nó, chúng tôi không thể sống sót ”(“ Người Mỹ đã kiểm soát cuộc chiến trong chiến tranh. Viện trợ của Mỹ tài trợ cho đất nước; không có nó, chúng tôi không thể sống sót ”- Nguyễn Cao Kỳ, How we lost the Vietnam war , NXB Stein và Day, New York, 1978, tr.137). 

(4) Dự kiến ​​của ông Mười Hương là chính xác. Theo TS Nguyễn Tiến Hưng, nguyên lý Tổng thống Thiệu về tái thiết lập, Tổng trưởng Bộ Kế hoạch và phát triển: Trọng tài khóa 1971-1972, Mỹ chi tiêu 12 tỉ đô la cho chiến tranh Việt Nam, but after draw out quân về nước, viện trợ quân đội Mỹ giảm dần cho Thiệu chế độ như sau:

Tài khóa 1972-1973: 2,1 tỉ đô la,

Tài khóa 1973-1974: 1,4 tỉ đô la,

Tài khóa 1974-1975: 0,7 tỉ (tức 700 triệu) đô la, nhưng lúc đó “khởi động lửa làm giá xe tăng gấp 4 lần, bởi vậy mãi lực thật của ngân sách nó chỉ ở phía dưới 350 Triệu chứng, bằng 3% của mức chi tiêu 1970-1971 ”(Nguyễn Tiến Hưng, Khi đồng minh chạy , Cơ sở xuất bản Hứa Chấn Minh, California, 2005, tr.222, 223). 

Mặt khác, khi thấy chế độ Thiệu nhiều lần xin tăng viện để qua cơn hấp hối, TS Henry Kissinger, cố vấn Nixon về một ninh quốc gia, đã lên một câu: “Sao họ không chết phứt cho rồi? Điều tệ hại nhất có thể xảy ra là chúng ta cứ sống dai dẳng ”(“ Tại sao những người này không chết nhanh? Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là họ sống sót ”- Nguyễn Tiến Hưng, sđd, tr. 323).

(5) Sau khi Mỹ rút hết quân, Kissinger dự đoán chế độ Thiệu chỉ có thể tồn tại “một năm” nữa (Nguyễn Tiến Hưng, sđd, tr.330).

(6) Tại Hội nghị Paris, Mỹ và VNCH đồng ý với đề xuất của ta. Nhưng sau đó, Nguyễn Văn Thiệu hô hào “Bốn không”, trong đó không có liên kết với ta.

(7) Binh nhì thấp hơn binh nhất một cấp, là thấp nhất của quân hàm trong các vũ khí trang, do đó không có cấp nào thấp hơn nữa. Nói binh ba là nói chơi cho vui. Thời Pháp thuộc, binh nhì là đềuxième classe , nói đùa là đơ dèm cùi bắp.  

Nguon: http://www.honvietquochoc.com.vn/bai-viet/6443-hv155-chuyn-v-cn-c.aspx.