LÊ TÙNG LÂM - ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Blog học thuật, phản ánh quan điểm của cá nhân.

Bài phổ biến

  • SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”
  • HỘI NGHỊ HOÀ BÌNH VERSAILLÈS
  • PHƯƠNG PHÁP TƯỜNG THUẬT LỊCH SỬ
  • SỰ HÌNH THÀNH BA LÒ LỬA CHIẾN TRANH TRÊN THẾ GIỚI
  • Bài 3 chương 2_Hướng dẫn thực hiện đề tài Nghiên cứu khoa học
  • Bai 4 chuong 3_Hướng dẫn thiết kế bảng hỏi_PPNCKH
  • CÂU HỎI ÔN TẬP SỬ 12
  • Mẫu Bìa Tiểu luận Cơ sở văn hóa Việt Nam
  • NHẬT BẢN THỜI TRUNG ĐẠI
  • Hồ Chí Minh và Nước Mĩ

8/2/21

TỰ HÀO VỀ THẦY TS. PHAN VĂN HOÀNG (Năm Trần)

 Rất thay đổi TỰ HÀO về Thầy TS. PHAN VĂN HOÀNG (Năm Trần) , cả một thời Thanh xuân, Hiến hiến cho Tổ quốc. Nhân đầu xuân Tân Sửu, xin chúc thầy luôn khỏe và nhiều niềm vui trong cuộc sống.                                             

  Kỉ niệm, ngày 28 tháng Chạp, năm Canh Tý, nhằm ngày 8/2/2021.

Về căn cứ

07 Tháng Năm 2021 3:08 SA
ĐẶT TƯỜNG MINH




M ua hè năm 1972, Ông Tám Nam, Phó ban An ninh T4, gọi Trần Quới Sơn (Năm Trần) về căn cứ gấp. Lúc đó, căn cứ của ban tạm đóng trong một khu rừng thuộc vùng giải phóng Svay Rieng (Campuchia).

Khi mặt trời vừa lặn núi Bà Đen, Năm Trần rời Phước Chỉ (huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh). Cùng đi có một du trẻ, Tư An, vừa đường bảo vệ.

Tỉnh Tây Ninh ranh giới với tỉnh Svay Rieng. Nếu đi theo Quốc lộ số 1, thì chỉ cần qua cửa khẩu Mộc Bài và đi thêm khoảng cây nữa là đến căn cứ. Nhưng từ sau cuộc đảo chính tháng 3-1970 của Lon Nol lật đổ ông hoàng Sihanouk, quân đội Sài Gòn đóng thêm kiểm toán dọc biên giới hai nước, nên Năm Trần phải đi về hướng Nam, theo sông Vàm Cỏ Đông, xuống vùng Đức Hòa - Đức Huệ (tỉnh Long An) mới tìm ra đường mòn đi Svay Rieng.

Phước Chỉ nằm trong vùng giải phóng, đi lại thoải mái. Một đường chắc chắn, Năm Trần vào một nhà dân nhờ phương tiện. Chị chủ nhà không cho mượn mà còn cho mượn cả người chèo là cậu con trai khoảng tuổi của chị. Chiến tranh nhân dân ở nước ta là thế. Nhìn đôi tay cậu bé thoăn thoắt đưa các chiến sĩ đi công tác, Năm Trần nhớ đến câu hát trong Bài ca Hà Nội của nhạc sĩ Vũ Thanh: “Chiến công này có tay em” .   

Khi trời bắt đầu tối, hai người đến địa phận tỉnh Long An. Trước kia, đây là làng mạc, đồng sung túc. Khi đồng khởi động, quân đội được đưa ra, nhưng không thành công. Địch xem đây là vùng oanh tạc, tự cho mình quyền “ Giết bất cứ thứ gì động đậy” tại đó (Giết bất cứ thứ gì di chuyển) như nhan đề một cuốn sách của tác giả người Mỹ Nick Turse. Nông dân ở đây phải rời khỏi nhà, bỏ hoang đồng ruộng, chuyển sang các nơi khác. Một số thanh niên nam nữ thoát ly gia đình, vào du kích, bám đất giữ làng. Tư An is a example.  


Bià List,  bất cứ thứ gì động đậy

Gần đó có một căn cứ của địch, tối nào cũng cho những người lính đi tuần xung quanh, ngẫu nhiên để lại một vài tiểu đội phục vụ trên đường đi. Do đó hai người phải hết sức cảnh giác, quan sát kỹ thuật trước khi lên.

Close to the light, they to the sát biên giới. Địch thường phục hồi ở đây để đón lõng người qua lại. Tư An bảo Năm Trần sao chép vào bụi cây ven đường, một mình đi dò đường. Sau decim gap, Tư An quay lại, ra dấu “an toàn” để tiếp tục cuộc hành trình.

Hai biên giới khi trời vừa sáng. Nhớ lại bức ảnh đăng trên tờ báo Mỹ cách nay tròn hai năm, Năm Trần không khỏi cười. Ảnh chụp tổng thống Mỹ lên đài truyền hình trong đêm 30-4-1970 thông báo hàng vạn quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa vừa mở cuộc hành quân “Tìm và diệt” vào Vùng Mỏ Vẹt - Lưỡi Câu dọc biên giới Việt Nam - Campuchia. Ngón tay của Nixon chỉ đúng vào bến hai chiến sĩ Việt Cộng đang có mặt!


Tổng thống Nixon trong đêm 30-4-1970

Svay Rieng cũng như các biên giới khác của Campuchia bị bom đạn Mỹ cày xới trong thời gian dài, nhất là dưới thời Nixon. Trong phần phụ (Sideshow), William Shawcross cho biết: in gần 4 năm rưỡi, từ 18-3-1969 đến 15-8-1973, My đã xuống dưới 539.129 tấn bom, gấp 3,37 lần số bom Mỹ đã xuống Nhật Bản trong thế chiến II. Tác giả người Anh mô tả: những người dân Campuchia “di chuyển chậm, qua sông, gần như mất hết sức sống vì thần kinh sợ hãi, những máy bay ném bom vào họ, và đêm qua đêm khác một bom biển nặng 750 pound (tương đương 337 tấn) rơi xuống chung quanh họ ” (1) .

Mặc cho bom rơi đạn lạc, khắp nơi loang lổ đầy những hố bom dưới dạng mặt trăng, cuộc sống vẫn diễn ra. Sau khi rút gọn, người dân trở lại, dựng lại mái nhà xưa, sửa sang ruộng vườn… Đặc biệt, tại các phum sóc ở Sóc Nóc, Tà Nội, Chi Phú… có khá đông Việt kiều sinh sống hòa hợp với mọi người địa chỉ. Họ là nhân của “Cộng đồng tiền dịch”, của “quốc gia chiến lược”, của “nông thôn bình quân chương trình” và nhất là của các trận ném bom từ khi quân Mỹ tràn vào miền Nam. Tuy phải rời quê hương hát đây cảm ơn, song lòng họ luôn hướng về Tổ quốc, sẵn sàng ủng hộ sự nghiệp cứu nước. Nhiều gia đình cho con em gia nhập bộ đội, một số đã hy sinh trong chiến đấu.

Đến trước, hai người về căn cứ. Hay tin Năm Trần về, đồng đội đến thăm, hỏi han tình hình Sài Gòn…

Hôm đó bảy giờ tối, một du kích do Năm Trần đưa đến Văn phòng Ban lãnh đạo. Ông Tám Nam ra đón Năm Trần, hỏi thăm đôi điều khiển và dẫn vào tranh. Có một người lạ (Năm Trần chưa gặp bao giờ), khoảng 50 tuổi, áo thun ngắn tay mặc áo màu xanh. Không để Năm Trần ngỡ ngàng, ông Tám đã giới thiệu: “Đây là đồng chí Mười Hương, thủ trưởng mới của chúng ta”.

Sau khi ông Tư Trọng, Trưởng ban An ninh T4, cuộc gặp nạn, một phó ban được tạm dừng để làm quyền Trưởng ban. Nay ông Mười Hương chính thức được cử xuống ban chỉ đạo.

Sau khi trao đổi mấy câu về tình hình đi đường, ông Mười hỏi nhiều chuyện về Huế. Ông Tám Nam có giới thiệu “lý lịch” của Năm Trần (hoạt động rồi bị bắt giam ở Huế trước khi tiếp tục hoạt động tại Sài Gòn). Sau này, Năm Trần mới hiểu lý do tại sao: Bản thân ông Mười Hai cũng từng bị chế độ Ngô Đình Diệm bắt giam ở Huế trong gần sáu năm (1958 - 1964) tại Tòa Khâm. Sau ngày họ Ngô bị đổ, Tòa Khâm bị phá hủy để xây dựng Trường đại học Sư phạm, nơi Năm Trần ngồi học 8 năm trước. Có lẽ khi gặp Năm Trần, những kỷ niệm xưa về Huế chợt sống lại trong ký ức ông…

Có tiếng máy bay qua căn cứ. Có thể là máy bay trinh sát, cũng có thể là máy bay ném bom. Cùng một lúc, không bảo vệ ai, tất cả các ngọn đèn đều vụt tắt. Mọi người ngồi im lặng trong bóng tối, thiết bị lắng nghe từng động tĩnh. Trong khi đó, các đơn vị võ trang đã sẵn sàng đối phó với mọi tình cảm, có thể xảy ra…

Mười hai giây cân nặng trôi qua. Bay máy bay xa. Mọi người dùng đèn, tiếp tục buổi học. Ông Mười Hương nói: “Phiên bản này gọi cháu ra đây để phổ biến một số máy chủ mới của ban”.

Trong khi ông mười một cách chậm rãi, chiết xuất, Năm Trần lắng nghe như lời nói. Active active analalate an ninh mọi người chép lên giấy, mọi điều, mọi số… đều phải được “in” trong trí nhớ. Những gì ông Mười Hương nói tối hôm ấy, cách nay gần nửa thế kỷ, nhưng Năm Trần vẫn còn nhớ như mới nghe ông nói hôm qua…


Ông Mười Hương  (giữa) , ông Tám Nam  (trái) và Năm Trần trong buổi họp mặt Ban An ninh T4 tại Củ Chi sau giải phóng 

Sau Tết Mậu Thân, tôi thấy không thể thắng ở Việt Nam. Do đó, khi bước vào Nhà Trắng từ đầu năm 1969, Richard Nixon đưa ra chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh”, quân đội dần dần chinh phục Mỹ về nước, tập đoàn quân sự cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, đã từng dân Mỹ sẽ được “hòa bình trong danh sách dự án”. Năm nay, 1972, là cuối năm của nhiệm kỳ đầu tiên, Nixon cần phải làm một cái gì đó để thực hiện lời hứa đó mới mong tái đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống sẽ tổ chức vào cuối năm nay. Theo dõi trạng thái hoạt động của Nixon, trên chiến trường cũng như trên bàn hội nghị Paris, chúng tôi chủ động khuyến khích Mỹ rút quân về nước. Trước đây, Bác Hồ đã từng nói với một nhà báo Anh rằng người dân Việt Nam chúng ta sẵn sàng trải thảm đỏ để quân Mỹ rút về nước (2). Trong thơ chúc Tết năm 1969, Bác không viết: “ Đanh cho Mỹ cút, lật nhào ” mà Bác viết: “ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nhào ”. Phải chăng Bác đã tách rời hai mục tiêu của cuộc chiến “Mỹ cút” và “lao động” - để quân đội và dân chúng lần lượt giải quyết từng một.

Nhìn vào mắt Năm Trần, ông ấy thấy cậu ấy chưa thông tin lắm với cái mới chủ, nên dừng lại để hỏi ý kiến. Năm Trần thành thật bày tỏ: “Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, chúng ta đã đề ra khẩu hiệu 'đuổi Mỹ, vượt chướng ngại vật'. Sao nay lại đổi? ”.

Mr. Mười ba ôn tồn giải thích:

Một là , chế độ dựa vào Mỹ để tồn tại (3) . Một khi Mỹ rút quân, chế độ sẽ lung lay tận gốc rễ, không kịp thì sẽ sụp đổ. Một câu hỏi đặt ra: “My have quay trở lại để nghiên cứu chế độ đó?”. Rất nhiều khả năng là không! (4)

Hai là , nếu cùng lúc xảy ra vụ sập chế độ với Mỹ rút quân, các đồng minh của Mỹ sẽ chịu trách nhiệm cho tôi rằng “làm việc của tôi mà chạy” và không tin tưởng ở vai trò “lãnh đạo thế giới do ”của tôi nữa. Theo lời của Kissinger, cần có “một khoảng thời gian coi cho được” ( một khoảng vừa phải ) giữa hai sự kiện đó để tôi có thể phân bua: khi Mỹ rút quân, Thiệu vẫn còn ngồi trong Định Độc Lập mà! (5)

Ba là , phái đoàn rút ra tại Hội nghị Paris đề xuất: sau khi quân Mỹ, sẽ thành lập ở miền Nam một “Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc” gồm ba thành phần, tức là có sự tham gia gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Lực lượng thứ ba. Hội đồng này sẽ tổ chức tuyển sinh để bầu ra các cơ quan có quyền lực ở miền Nam thay thế cho chính quyền Thiệu hiện nay. (6)

Càng nghe, Năm Trần càng cảm thấy thuyết phục.

Ông nói tiếp: Dự kiến ​​tình hình của ta là như thế, song thực tế có diễn ra theo ý ta hay không, điều đó thuộc nhiều yếu tố: phản kháng của đối phương có quyết liệt hay không, đồng tình of the power of the third quality has the strong or not, and the best is the force of the Army and the people we many to where, strong to đâu. Xưa nay, một khi ta có quyết tâm cao độ thì sự nghiệp của ta chắc chắn sẽ thành công.

Ông mười hai chuyển sang trình chiếu những dự án của Ban An ninh T4 trong sáu tháng cuối năm 1972. Có nhiều tác giả mới như xây dựng các “chính trị” trong nội dung, thâm nhập Lực lượng thứ ba vv…

Anh ấy phải đi nóng lại: “Chiến sĩ An ninh phải có trái tim nóng , nhưng cái đầu tiên . Có cái lạnh đầu tiên thì bình tĩnh phân tích tình hình một cách khách hàng và khoa học, mới tìm ra hiệu quả hoạt động phương thức ”. Năm Trần thường hoạt động trong vùng địch thủ, xa căn cứ, nên ghi nhớ những lời dẫn dắt của ông Mười, xem như kim chỉ nam cho mọi hành động của mình.  

Sau hòa bình ngày và hệ thống nhất, Năm Trần thường cùng đồng đội đến nhà ông Mười Hương, 


Thủ trưởng Mười Hương  (trái)  và “binh ba” Năm Trần sau 1975

Có lần ông hỏi Năm Trần: “Cháu được phong quân hàm gì rồi?”.

Năm Trần trả lời: “Thưa chú, cháu đeo lon binh ba (7)  ạ”.

Anh ấy tự hỏi: “Bình ba? Bình ba là bậc gì? ”.

Năm Trần thưa: “Dạ, binh ba dưới binh nhì một cấp, tiếng Pháp gọi là troa dèm cùi đó ạ”.

Anh Mười Hai cười vui vẻ: “Được, làm được việc mà tốt hơn là làm ông kia mà xấu”.

Câu nói thể hiện sự quan tâm của ông Mười Hương, người hy sinh suốt đời cho sự nghiệp giúp dân mà không bao giờ nghĩ đến quyền lợi, vị trí của bản thân.


(1) William Shawcross, phụ , NXB Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1989, tr.232. 

(2) Nguyên văn câu Bác Hồ nói với nhà báo Felix Greene:  “Họ có thể ra đi bất cứ lúc nào… Chúng tôi sẽ làm mọi cách để giúp họ. Chúng tôi sẽ trải thảm đỏ cho họ ”(Họ [tức quân Mỹ] có thể rời [Việt Nam] bất cứ lúc nào… Chúng tôi sẽ làm mọi thứ mà tôi có thể làm để giúp họ. Ngay cả chúng tôi tôi sẽ trải thảm đỏ cho họ [rời khỏi Việt Nam] - Hãng thông tấn AP đưa tin, ngày 20-12-1965).

(3) Trong hồi ký của mình, Nguyên Phó Tổng thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ thừa nhận: “Mỹ kiểm soát cuộc chiến. Viện trợ Mỹ tài trợ cho nước này [chỉ VNCH]; không có nó, chúng tôi không thể sống sót ”(“ Người Mỹ đã kiểm soát cuộc chiến trong chiến tranh. Viện trợ của Mỹ tài trợ cho đất nước; không có nó, chúng tôi không thể sống sót ”- Nguyễn Cao Kỳ, How we lost the Vietnam war , NXB Stein và Day, New York, 1978, tr.137). 

(4) Dự kiến ​​của ông Mười Hương là chính xác. Theo TS Nguyễn Tiến Hưng, nguyên lý Tổng thống Thiệu về tái thiết lập, Tổng trưởng Bộ Kế hoạch và phát triển: Trọng tài khóa 1971-1972, Mỹ chi tiêu 12 tỉ đô la cho chiến tranh Việt Nam, but after draw out quân về nước, viện trợ quân đội Mỹ giảm dần cho Thiệu chế độ như sau:

Tài khóa 1972-1973: 2,1 tỉ đô la,

Tài khóa 1973-1974: 1,4 tỉ đô la,

Tài khóa 1974-1975: 0,7 tỉ (tức 700 triệu) đô la, nhưng lúc đó “khởi động lửa làm giá xe tăng gấp 4 lần, bởi vậy mãi lực thật của ngân sách nó chỉ ở phía dưới 350 Triệu chứng, bằng 3% của mức chi tiêu 1970-1971 ”(Nguyễn Tiến Hưng, Khi đồng minh chạy , Cơ sở xuất bản Hứa Chấn Minh, California, 2005, tr.222, 223). 

Mặt khác, khi thấy chế độ Thiệu nhiều lần xin tăng viện để qua cơn hấp hối, TS Henry Kissinger, cố vấn Nixon về một ninh quốc gia, đã lên một câu: “Sao họ không chết phứt cho rồi? Điều tệ hại nhất có thể xảy ra là chúng ta cứ sống dai dẳng ”(“ Tại sao những người này không chết nhanh? Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là họ sống sót ”- Nguyễn Tiến Hưng, sđd, tr. 323).

(5) Sau khi Mỹ rút hết quân, Kissinger dự đoán chế độ Thiệu chỉ có thể tồn tại “một năm” nữa (Nguyễn Tiến Hưng, sđd, tr.330).

(6) Tại Hội nghị Paris, Mỹ và VNCH đồng ý với đề xuất của ta. Nhưng sau đó, Nguyễn Văn Thiệu hô hào “Bốn không”, trong đó không có liên kết với ta.

(7) Binh nhì thấp hơn binh nhất một cấp, là thấp nhất của quân hàm trong các vũ khí trang, do đó không có cấp nào thấp hơn nữa. Nói binh ba là nói chơi cho vui. Thời Pháp thuộc, binh nhì là đềuxième classe , nói đùa là đơ dèm cùi bắp.  

Nguon: http://www.honvietquochoc.com.vn/bai-viet/6443-hv155-chuyn-v-cn-c.aspx.

Được đăng bởi Letunglam.sgu vào lúc 08:55 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

25/11/20

KHOA LÝ LUẬN MÁC-LÊNIN BỘ MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC. - ppt tải xuống

KHOA LÝ LUẬN MÁC-LÊNIN BỘ MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC. - ppt tải xuống: KIỂM TRA BÀI CŨ
Được đăng bởi Letunglam.sgu vào lúc 14:20 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

28/10/20

Bài 3 chương 2_Hướng dẫn thực hiện đề tài Nghiên cứu khoa học

Được đăng bởi Letunglam.sgu vào lúc 02:40 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Bai 4 chuong 3_Hướng dẫn thiết kế bảng hỏi_PPNCKH

Được đăng bởi Letunglam.sgu vào lúc 02:40 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

5/9/20

Nhật đầu hàng: Vì Stalin, không phải bom nguyên tử

 

Nhật đầu hàng: Vì Stalin, không phải bom nguyên tử (Phần 1)

hiroshima-bombing-enola-gay

Nguồn: Ward Wilson, “The Bomb Didn’t Beat Japan… Stalin Did”, Foreign Policy, 30/5/2013.


Phải chăng 70 năm chính sách về vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ đã dựa trên một lời nói dối?

Việc Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Nhật Bản trong Thế Chiến II từ lâu đã là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận cảm tính. Ban đầu, ít ai đặt ra nghi vấn về quyết định của Tổng thống Truman là thả hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Nhưng vào năm 1965, nhà sử học Gar Alperovitz đã lập luận rằng mặc dù bom nguyên tử đã trực tiếp chấm dứt chiến tranh, song giới lãnh đạo Nhật Bản dù gì cũng đã muốn đầu hàng và có thể đã đầu hàng trước khi cuộc đổ bộ của Mỹ dự kiến vào ngày 1 tháng 11 năm 1945 diễn ra. Do vậy, việc sử dụng bom nguyên tử là không cần thiết. Rõ ràng là nếu việc thả bom là không cần thiết để giành chiến thắng thì việc ném bom xuống Hiroshima và Nagasaki là sai lầm. Trong 48 năm sau đó, rất nhiều người đã tham gia vào cuộc tranh cãi: một số người ủng hộ Alperovitz và lên án vụ ném bom, những người khác lại phản bác nảy lửa và cho rằng những vụ ném bom là cần thiết, hợp đạo đức, và giúp cứu mạng rất nhiều người.

Tuy nhiên, cả hai dòng tư tưởng đều giả định rằng việc ném xuống Hiroshima và Nagasaki loại vũ khí mới và uy lực hơn đã buộc Nhật Bản phải đầu hàng vào ngày 9 tháng 8 năm 1945. Cả hai dòng tư tưởng đều đã không chất vấn tính hữu ích của việc ném bom ngay từ đầu – về căn bản là hỏi rằng liệu việc đó có hiệu quả không? Quan điểm chính thống là có, tất nhiên là đã có tác dụng. Hoa Kỳ đã ném bom Hiroshima vào ngày 6 tháng 8 và Nagasaki vào ngày 9 tháng 8, khi đó Nhật Bản cuối cùng đã chịu khuất phục trước đe dọa tiếp tục bị ném bom hạt nhân và đầu hàng. Luận điểm này được ủng hộ vô cùng mạnh mẽ. Nhưng nó có ba vấn đế lớn, và khi tổng hợp lại thì cả ba sẽ làm giảm đáng kể tính thuyết phục của cách diễn giải truyền thống cho sự đầu hàng của Nhật Bản.

Vấn đề thời gian

Vấn đề đầu tiên của cách diễn giải truyền thống là thời gian. Và đó là một vấn đề lớn. Cách diễn giải truyền thống chỉ đi theo một dòng thời gian đơn giản: Không lực Lục quân Hoa Kỳ[1] ném bom hạt nhân xuống Hiroshima vào ngày 6 tháng 8, ba ngày sau họ ném một quả bom nữa xuống Nagasaki, và ngay hôm sau Nhật Bản tỏ ý định muốn đầu hàng”. Khó mà có thể đổ lỗi cho những tờ báo của Mỹ vì cho đăng những dòng tít như “Hòa bình ở Thái Bình Dương: Bom của chúng ta đã thành công!”.

Khi câu chuyện về Hiroshima được kể lại trong phần lớn sách lịch sử Mỹ, ngày vụ ném bom diễn ra – ngày 6 tháng 8 – được dùng làm cao trào của câu chuyện. Tất cả thành tố của câu chuyện đều hướng đến thời khắc đó: quyết định chế tạo quả bom, những nghiên cứu bí mật ở Los Alamos, cuộc thử nghiệm đầu tiên đầy ấn tượng, và thành quả cuối cùng ở Hiroshima. Nói cách khác, nó được kể như là một câu chuyện về bom nguyên tử. Song không thể nào phân tích quyết định đầu hàng của Nhật Bản một cách khách quan trong bối cảnh câu chuyện về bom nguyên tử. Ngay cách nói “câu chuyện về bom nguyên tử” đã giả định rằng vai trò của bom nguyên tử là trọng tâm rồi.

Nếu xem xét từ quan điểm của Nhật Bản, thì ngày quan trọng nhất trong tuần thứ 2 của tháng 8 năm đó không phải ngày 6 mà là ngày 9 tháng 8. Đó là ngày Hội đồng Tối cao đã họp – lần đầu tiên trong cả cuộc chiến – để bàn về việc đầu hàng vô điều kiện. Hội đồng Tối cao là một nhóm gồm 6 thành viên cao cấp nhất của chính phủ – giống như một “nội” nội các – và trên thực tế là nhóm người đã cai trị Nhật Bản trong năm 1945. Giới lãnh đạo Nhật Bản đã không cân nhắc một cách nghiêm túc đến việc đầu hàng cho đến tận ngày đó. Đầu hàng vô điều kiện (điều mà phe Đồng Minh yêu cầu) là một viên thuốc đắng. Hoa Kỳ và Anh Quốc khi đó đã đang tổ chức những phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh ở châu Âu. Sẽ thế nào nếu như họ quyết định đưa Thiên Hoàng Nhật Bản – vốn được coi như thánh sống – ra trước tòa? Sẽ thế nào nếu họ phế truất Thiên Hoàng và thay đổi hoàn toàn hình thức chính quyền? Kể cả khi tình hình trong mùa hè năm 1945 đã rất tồi tệ, thì các nhà lãnh đạo Nhật Bản vẫn không sẵn sàng cân nhắc việc từ bỏ truyền thống, tín ngưỡng, hay lối sống của họ. Cho đến ngày 9 tháng 8. Chuyện gì đã có thể xảy ra để làm họ phải đổi ý một cách bất ngờ và quyết đoán như vậy? Điều gì đã khiến họ phải ngồi xuống và họp bàn một cách nghiêm túc về việc đầu hàng lần đầu tiên sau 14 năm chiến tranh?

Điều đó không thể nào là Nagasaki. Vụ ném bom Nagasaki diễn ra vào cuối buổi sáng ngày 9 tháng 8, sau khi Hội đồng Tối cao đã bắt đầu họp bàn chuyện đầu hàng, và tin về vụ ném bom chỉ đến tai các nhà lãnh đạo Nhật Bản vào đầu buổi chiều – sau khi cuộc họp của Hội đồng Tối cao đã kết thúc trong bế tắc và toàn bộ nội các đã được triệu tập để tiếp tục họp bàn. Chỉ dựa trên yếu tố thời gian thôi, thì Nagasaki không thể nào là động cơ khiến họ đầu hàng.

Hiroshima cũng không phải là lý do hợp lý. Vụ ném bom Hiroshima diễn ra trước đó 74 giờ – nghĩa là hơn ba ngày. Khủng hoảng kiểu gì mà phải mất đến ba ngày mới phát tác? Đặc trưng của khủng hoảng là gây ra cảm giác tai họa ngay trước mắt và mong muốn dữ dội phải hành động ngay lập tức. Làm sao mà các nhà lãnh đạo Nhật Bản có thể cảm thấy rằng vụ Hiroshima đã châm ngòi một cuộc khủng hoảng và rồi không họp bàn về vấn đề đó cho tới tận ba ngày sau?

Tổng thống John F. Kennedy còn đang ngồi trên giường đọc báo vào khoảng 8:45 sáng ngày 16 tháng 10 năm 1962 khi McGeorge Bundy, cố vấn an ninh quốc gia của ông, chạy vào để báo rằng Liên Xô đang bí mật lắp đặt tên lửa hạt nhân ở Cuba. Trong vòng hai giờ bốn mươi lăm phút, một ủy ban đặc biệt đã được thành lập, các thành viên trong hội đồng đã được xét chọn, liên lạc, đưa đến Nhà Trắng, và ngồi quanh bàn họp nội các để thảo luận xem nên làm gì.

Tổng thống Harry Truman đang đi nghỉ tại Independence, Missouri vào ngày 25 tháng 6 năm 1950 khi Bắc Triều Tiên đưa quân vượt qua vĩ tuyến 38 và xâm lược Nam Triều Tiên. Ngoại trưởng Acheson đã gọi ngay cho Truman vào sáng thứ 7 đó để báo tin cho ông. Trong vòng 24 giờ, Truman đã bay nửa vòng qua nước Mỹ và có mặt tại Nhà Blair[2] (Nhà Trắng khi đó đang được tu sửa) cùng các cố vấn quân sự và chính trị hàng đầu để bàn tính nên làm gì tiếp theo.

Thậm chí Tướng George Brinton McClellan – tổng tư lệnh Binh đoàn Potomac thuộc quân miền bắc vào năm 1863 trong thời Nội Chiến Mỹ, người mà Tổng thống Lincoln nhận xét một cách đáng buồn rằng “Anh ta là người chậm chạp” – cũng chỉ mất 12 giờ để phản ứng sau khi thu giữ được một bản quân lệnh của Tướng Robert E. Lee về việc xâm lược Maryland.

Những vị lãnh đạo này đều đã phản ứng bởi nhu cầu cấp bách mà một cuộc khủng hoảng tạo ra – như các lãnh đạo của bất kỳ quốc gia nào cũng sẽ phản ứng. Họ đều có những bước đi quyết đoán trong một khoảng thời gian rất ngắn. Làm thế nào có thể lắp ghép cách hành xử này với phản ứng của những nhà lãnh đạo Nhật Bản? Nếu Hiroshima thực sự châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng mà cuối cùng đã buộc Nhật Bản phải đầu hàng sau 14 năm chiến tranh, thì sao họ lại phải mất đến 3 ngày mới cùng họp mặt để bàn về nó?

Có người có thể lập luận rằng sự trì hoãn này là hoàn toàn hợp lý. Có lẽ họ đã chỉ nhận thức được tầm quan trọng của vụ ném bom này một cách chậm rãi. Có lẽ họ chưa biết đó là vũ khí hạt nhân và khi đã biết và đã nhận ra tác động khủng khiếp của loại vũ khí này, thì họ đã tự nhiên kết luận rằng họ phải đầu hàng. Không may thay, cách lý giải này không phù hợp với các bằng chứng.

Trước hết, tỉnh trưởng Hiroshima đã báo cáo cho Tokyo vào ngay ngày Hiroshima bị ném bom rằng khoảng một phần ba dân số thành phố đã bị giết trong vụ tấn công và khoảng hai phần ba thành phố đã bị phá hủy. Thông tin này không hề thay đổi trong những ngày sau đó. Vậy nên kết quả cuối cùng của vụ ném bom đã rõ ràng ngay từ đầu. Các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã biết tương đối rõ hậu quả của vụ tấn công ngay từ ngày đầu tiên, vậy mà họ vẫn không phản ứng.

Thứ hai, báo cáo sơ bộ của nhóm điều tra của Lục quân (Nhật) về vụ ném bom Hiroshima, bản báo cáo rất chi tiết về chuyện đã xảy ra ở đó, đã không được trình nộp cho đến ngày 10 tháng 8. Nói cách khác, bản báo cáo này đã không được đưa đến Tokyo cho đến sau khi đã có quyết định đầu hàng. Mặc dù họ đã báo cáo bằng miệng (cho quân đội) về vụ đánh bom vào ngày 8 tháng 8, song vẫn không có chi tiết về vụ ném bom này cho đến hai ngày sau. Do đó, đưa ra quyết định đầu hàng không phải xuất phát từ sự sợ hãi sâu sắc trước nỗi kinh hoàng ở Hiroshima.

Thứ ba, quân đội Nhật Bản có hiểu, ít nhất là một cách sơ sài, vũ khí hạt nhân là gì. Nhật Bản cũng có một chương trình vũ khí hạt nhân. Một vài quân nhân đã viết trong nhật ký của họ rằng một quả bom nguyên tử đã hủy diệt Hiroshima. Tướng Anami Korechika, Bộ trưởng Bộ Chiến tranh, thậm chí đã tham vấn với người đứng đầu chương trình vũ khí hạt nhân của Nhật Bản vào tối ngày 7 tháng 8. Vì vậy cho rằng các nhà lãnh đạo Nhật Bản không biết gì về vũ khí hạt nhân là không hợp lý.

Cuối cùng, một dữ kiện khác về chuyện thời gian cho thấy một vấn đề rất lớn. Ngày 8 tháng 8, Ngoại trưởng Togo Shigenori đã đến gặp Thủ tướng Suzuki Kantaro và yêu cầu triệu tập Hội đồng Tối cao để họp bàn về vụ ném bom Hiroshima, nhưng các thành viên trong Hội đồng đã từ chối. Vậy là cuộc khủng hoảng đã không lớn lên từng ngày cho đến khi bùng phát toàn diện vào ngày 9 tháng 8. Bất kỳ cách lý giải nào về những hành động của các lãnh đạo Nhật Bản dựa trên cơ sở cơn “sốc” từ vụ ném bom Hiroshima phải lý giải được vì sao họ đã cân nhắc họp mặt vào ngày 8 tháng 8 để bàn về vụ ném bom, quyết định rằng nó là không quan trọng, và rồi đột nhiên quyết định họp bàn chuyện đầu hàng ngay ngày hôm sau. Hoặc là tất cả bọn họ đều bị chung một dạng bệnh tâm thần phân liệt tập thể nào đó, hoặc là một sự kiện nào khác mới thực sự là động cơ để họ bàn tính chuyện đầu hàng.

Quy mô

Xét về mặt lịch sử, việc sử dụng bom nguyên tử có thể được xem như sự kiện riêng lẻ quan trọng nhất trong cuộc chiến. Tuy nhiên, nếu xét từ quan điểm của Nhật Bản tại thời điểm đó, có thể không dễ gì phân biệt được vụ ném bom nguyên tử với những sự kiện khác. Sau cùng thì đâu dễ gì phân biệt được một hạt mưa giữa một cơn giông bão.

Mùa hè năm 1945, Không lực Lục quân Hoa Kỳ đã thực hiện một trong những chiến dịch hủy diệt thành thị dữ dội nhất trong lịch sử thế giới. Sáu mươi tám thành phố của Nhật Bản đã bị không kích và tất cả đều bị hủy diệt một phần hoặc toàn bộ. Ước tính khoảng 1,7 triệu người đã mất nhà cửa, 300.000 người chết, và 750.000 người bị thương. Sáu mươi sáu trong tổng số những vụ tấn công đó được thực hiện bằng bom thông thường, hai vụ bằng bom nguyên tử. Sự hủy diệt từ những vụ tấn công thông thường là rất lớn. Hết đêm này qua đêm khác, suốt cả mùa hè, các thành phố đều chìm trong khói lửa. Giữa cơn hủy diệt nhiều như thác đổ như vậy, sẽ chẳng đáng ngạc nhiên nếu một vụ tấn công đơn lẻ nào đó không gây được ấn tượng gì nhiều – kể cả nếu nó được thực hiện bằng một loại vũ khí mới đáng chú ý nào đó.

Một máy bay ném bom B-29 xuất phát từ quần đảo Mariana có thể mang theo khoảng 16.000 đến 20.000 pound[3] bom, tùy thuộc vào vị trí mục tiêu và cao độ tấn công. Một vụ không kích điển hình thường cần đến 500 đợt máy bay ném bom. Điều này nghĩa là trong một cuộc không kích thông thường sẽ có khoảng 4 – 5 kiloton bom được thả xuống mỗi thành phố. (Một kiloton tương đương với một ngàn tấn và là đơn vị tiêu chuẩn để đo sức công phá của vũ khí hạt nhân. Sức công phá của quả bom được thả xuống Hiroshima là 16,5 kiloton, của quả bom được thả xuống Nagassaki là 20 kiloton). Do việc sử dụng nhiều quả bom sẽ phân bổ sự hủy diệt ra đều hơn (và do đó sẽ hiệu quả hơn), trong khi một quả bom duy nhất, dù mạnh hơn, sẽ lãng phí phần lớn sức công phá ở khu vực trung tâm vụ nổ – trên thực tế là làm cho đống đổ nát bị bật lại – thì có thể lập luận rằng một số vụ không kích bằng bom thông thường đã đạt đến mức độ hủy diệt gần bằng hai vụ ném bom nguyên tử.

Vụ không kích thông thường đầu tiên, diễn ra vào đêm 9-10 tháng 3 tại Tokyo, đến nay vẫn là vụ tấn công có mức độ hủy diệt lớn nhất nhằm vào một thành phố trong lịch sử chiến tranh. Khoảng 16 dặm vuông[4] diện tích thành phố đã bị phá hủy. Khoảng 120.000 người Nhật đã thiệt mạng – con số thương vong lớn nhất trong số bất kỳ vụ không kích đô thị nào.

Vì cách kể lại câu chuyện mà chúng ta thường tưởng tượng rằng vụ ném bom Hiroshima có hậu quả kinh khủng hơn rất nhiều. Chúng ta tưởng tượng rằng số người bị giết trong vụ đó là cao chưa từng có. Nhưng nếu thống kê số người thiệt mạng trong số tất cả 68 thành phố bị không kích vào mùa hè năm 1945, thì bạn sẽ thấy Hiroshima xếp thứ hai về số thường dân thiệt mạng. Nếu thống kê theo số diện tích bị phá hủy, thì bạn sẽ thấy Hiroshima xếp thứ tư. Nếu thống kê số phần trăm diện tích thành phố bị phá hủy, thì Hiroshima xếp thứ 17. Rõ ràng là Hiroshima nằm trong phạm vi phạm vi mức độ hủy diệt của những vụ không kích thông thường diễn ra trong mùa hè năm đó.

Từ quan điểm của chúng ta, vụ Hiroshima có vẻ đặc biệt, phi thường. Nhưng nếu bạn đứng vào vị trí của những nhà lãnh đạo Nhật Bản trong khoảng ba tuần trước vụ ném bom Hiroshima, thì toàn cảnh sẽ khác đi đáng kể. Nếu bạn là một thành viên chủ chốt trong chính phủ Nhật Bản vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8, trải nghiệm của bạn về những vụ ném bom thành thị sẽ như thế này: Sáng ngày 17 tháng 7, bạn sẽ thức dậy và nhận được báo cáo rằng trong đêm qua bốn thành phố đã bị tấn công: Oita, Hiratsuka, Numazu, và Kuwana. Trong số này, Oita và Hiratsuka bị hủy diệt hơn 50%. Kuwana bị hủy diệt hơn 75% và Numazu còn phải chịu hậu quả nặng nề hơn, với khoảng 90% thành phố bị san phẳng.

Ba ngày sau đó bạn tỉnh dậy và biết tin rằng ba thành phố nữa đã bị tấn công. Fukui bị hủy diệt hơn 80%. Một tuần sau đó, thêm ba thành phố nữa bị tấn công trong đêm trước đó. Hai ngày sau, thêm sáu thành phố bị tấn công trong một đêm, trong đó Ichinomiya bị hủy diệt 75%. Vào ngày 2 tháng 8, bạn đến phòng làm việc và nhận được báo cáo rằng thêm bốn thành phố nữa đã bị tấn công. Và trong những báo cáo này sẽ bao gồm thông tin rằng Toyama (xấp xỉ kích thước Chattanooga, Tennessee vào năm 1945) đã bị hủy diệt 99,5%. Gần như toàn bộ thành phố đã bị san thành bình địa. Bốn ngày sau đó và thêm bốn thành phố nữa bị tấn công. Ngày 6 tháng 8, chỉ có một thành phố, Hiroshima, bị tấn công nhưng các báo cáo viết rằng thiệt hại là rất lớn và có một loại bom mới được sử dụng. Một vụ tấn công mới này có thể nổi bật hơn là bao so với hàng loạt những vụ ném bom thành thị đã diễn ra suốt hàng tuần trước đó?

Trong ba tuần trước khi Hiroshima bị ném bom, 26 thành phố đã bị Không lực Lục quân Hoa Kỳ tấn công. Trong số đó, tám thành phố – gần một phần ba tổng số – bị tàn phá ở mức độ ngang bằng hay thậm chí là hơn cả Hiroshima (tính theo tỉ lệ phần trăm diện tích thành phố bị hủy diệt). Việc Nhật Bản có đến 68 thành phố bị phá hủy trong mùa hè năm 1945 đưa ra một thách thức lớn cho những người cho rằng vụ ném bom Hiroshima là nguyên nhân Nhật Bản đầu hàng. Câu hỏi là: Nếu họ đầu hàng vì một thành phố bị phá hủy, thì tại sao họ không đầu hàng khi 66 thành phố kia bị phá hủy?

Nếu các lãnh đạo Nhật Bản định đầu hàng vì Hiroshima và Nagasaki, bạn sẽ cho rằng họ cũng quan tâm đến các vụ ném bom thành thị nói chung, rằng những vụ tấn công nhằm vào các thành phố của họ đã gây áp lực buộc họ phải đầu hàng. Nhưng có vẻ không phải như vậy. Hai ngày sau khi Tokyo bị không kích, cựu Ngoại trưởng Shidehara Kijuro đã bày tỏ một quan điểm mà dường như cũng được rất nhiều thành viên cấp cao trong chính phủ Nhật Bản lúc bấy giờ chia sẻ. Shidehara nói rằng “người dân sẽ quen dần với việc ngày nào cũng phải hứng chịu bom. Dần dần tinh thần đoàn kết và quyết tâm của họ sẽ mạnh mẽ hơn nữa”. Trong một lá thư gửi một người bạn ông viết rằng quan trọng là người dân phải cam chịu khổ cực vì “kể cả nếu hàng trăm ngàn người không trực tiếp tham chiến bị giết, bị thương, hoặc chết đói, kể cả nếu hàng triệu tòa nhà bị phá nát hay thiêu hủy”, thì vẫn cần có thêm thời gian vì mục đích ngoại giao. Cần phải nhớ rằng Shidehara là một nhân vật ôn hòa.

Những lãnh đạo ở cấp cao nhất trong chính phủ – trong Hội đồng Tối cao – dường như cũng có thái độ như vậy. Mặc dù Hội đồng Tối cao đã bàn tính đến tầm quan trọng của việc Liên Xô vẫn còn trung lập, song họ chưa hề thảo luận kỹ lưỡng về tác động của những vụ ném bom thành thị. Trong những ghi chép được lưu giữ lại, những vụ ném bom thành thị thậm chí còn không được nhắc đến trong các cuộc thảo luận của Hội đồng Tối cao ngoại trừ hai lần: một lần được nhắc đến vào tháng 5 năm 1945 và một lần trong cuộc họp bàn về nhiều vấn đề trong đêm 9 tháng 8. Dựa trên các bằng chứng, thật khó có thể chứng minh được rằng các lãnh đạo Nhật Bản cho rằng những vụ ném bom thành thị có ý nghĩa quan trọng hơn so với những vấn đề cấp bách khác trong thời chiến.

Tướng Anami vào ngày 13 tháng 8 đã nhận xét rằng hai vụ ném bom nguyên tử chẳng mấy đe dọa hơn những vụ ném bom thông thường mà Nhật Bản đã phải chịu đựng hàng tháng trời. Nếu Hiroshima và Nagasaki chẳng tệ hại hơn những vụ ném bom thông thường là mấy, và nếu các lãnh đạo Nhật Bản không cho rằng chúng đủ quan trọng để mang ra thảo luận kỹ lưỡng, thì sao mà những vụ ném bom xuống Hiroshima và Nagasaki có thể làm họ sợ đến mức đầu hàng được?

(Xem tiếp Phần 2)

———————

[1] Không lực Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Air Forces) là đơn vị không quân trực thuộc Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army). Phải đến năm 1947 đơn vị này mới tách ra khỏi Lục quân và trở thành một quân chủng riêng biệt là Không lực Hoa Kỳ (U.S. Air Force) (ND).

[2] Nhà Blair là một tòa nhà lịch sử tại Washington, D.C. và nằm trong quần thể Nhà khách Tổng thống. Năm 1942, chính phủ Hoa Kỳ mua lại tòa nhà này và sử dụng để tiếp đón khách của Tổng thống hay làm nơi ở tạm thời cho Tổng thống bên cạnh Nhà Trắng (ND).

[3] 1 pound xấp xỉ 0,45 kg (ND).

[4] 1 dặm xấp xỉ 1,6 km, 1 dặm vuông xấp xỉ 2,58 km2 (ND).

Biên dịch: Lê Hoàng Giang


Trả lờiChuyển tiếp
Được đăng bởi Letunglam.sgu vào lúc 06:12 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

12/5/20

Tại sao Bộ Ngoại giao Trung Quốc vu khống ông Phạm Văn Đồng? - Sputnik

Tại sao Bộ Ngoại giao Trung Quốc vu khống ông Phạm Văn Đồng?

nguồn: https://vn.sputniknews.com/vietnam/202005119022478-tai-sao-bo-ngoai-giao-trung-quoc-vu-khong-ong-pham-van-dong/

Trong tài liệu này, ông Phạm Văn Đồng được cho là đã công nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sathuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Cái gọi là “công hàm Phạm Văn Đồng” đó là gì và nói về điều gì? Ông Grigory Lokshin, một trong những chuyên gia Việt Nam học kỳ cựu nhất của Nga, nhà nghiên cứu hàng đầu tại Viện Viễn Đông thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga, đã giải đáp các câu hỏi này.

Trung Quốc đã biến chuyện thực tế thành điều giả mạo như thế nào

Ông Grigory Lokshin cho biết, đây không phải là lần đầu tiên báo chí Trung Quốc đề cập đến tài liệu này. Theo các nhà khoa học và tuyên truyền chính trị Trung Quốc, trong tài liệu này, người đứng đầu chính phủ VNDCCH đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là quần đảo Tây Sa và Nam Sa).
"Trong nhiều năm nghiên cứu vấn đề Biển Đông, tôi thường gặp tuyên bố này trong các bài viết và chuyên khảo của giới khoa học Trung Quốc. Nhưng khi bắt đầu tìm hiểu xem “công hàm Phạm Văn Đồng” là gì, tôi đã sớm phát hiện ra rằng các tuyên bố của Trung Quốc về bản chất tài liệu này là hoàn toàn sai sự thật và được thiết kế nhằm tới sự thiếu hiểu biết của đông đảo người dân Trung Quốc và toàn bộ cộng đồng thế giới.
Thứ nhất, đó không phải là công hàm chính thức, mà chỉ là một bức công thư do Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai, người mà ông nhiều năm gắn bó và tin tưởng qua quan hệ tình cảm thân thiện. Hai ông từng dẫn đầu phái đoàn của nước mình dự Hội nghị Genève 1954 và hiểu nhau rất rõ.
Thứ hai, bức công thư này đề cập đến tuyên bố của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 4 tháng 9 năm 1958 về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Đây là thời kỳ đỉnh cao của cuộc khủng hoảng chính trị - quân sự gay gắt trong quan hệ giữa Trung Quốc và Đài Loan. Khi đó, cả hai bên gần như sắp diễn ra chiến tranh. Trong thời điểm căng thắng đối với Trung Quốc đó, ông Phạm Văn Đồng khẳng định với người đứng đầu chính phủ Trung Quốc rằng Việt Nam sẽ ủng hộ Bắc Kinh. Cụ thể, trong bức công thư đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết rằng chính phủ VNDCCH ghi nhận Tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm “triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”. Và chỉ có vậy mà thôi!

Thứ ba, bức thư này không hề có từ nào nói
đến Hoàng Sa hay Trường Sa. Về sau, chính quyền Trung Quốc đã lý giải điều này một cách sai lạc, trên thực tế họ đã xuyên tạc nội dung bức công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Thứ tư, cách lý giải của Trung Quốc về bức công thư của ông Phạm Văn Đồng là hoàn toàn bóp méo thiện chí của VNDCCH đối với Trung Quốc, khi đó (năm 1958) đang lâm vào tình huống khó khăn. Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các cố vấn của ông không phải là các chính trị gia ngây thơ và thiếu hiểu biết. Họ biết rất rõ, ngay cả tại hội nghị thế giới về hiệp ước hòa bình với Nhật Bản tại San Francisco năm 1951, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã không được công nhận là của Trung Quốc như Bắc Kinh mong muốn, mà là của Việt Nam, thuộc Nhà nước Việt Nam, từ thời kỳ người Pháp bảo hộ chính quyền vua Bảo Đại. Và năm 1954, theo Hiệp định Genève, hai quần đảo đó tạm thời thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa, được thành lập ở miền Nam Việt Nam. Vào thời điểm ông Phạm Văn Đồng viết bức công thư nói trên, hai quần đảo này không thuộc quyền kiểm soát của VNDCCH, do đó Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có quyền hành với các quần đảo đó. Thật vậy, ngay cả khi muốn làm điều này, trong bức công thư của mình, ông Phạm Văn Đồng cũng không thể xác nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với một phần lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam mà không có sự đồng ý của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quốc hội VNDCCH".

Tuyên bố của Bắc Kinh về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa là không có căn cứ

Điều đáng ngạc nhiên là Bộ Ngoại giao Trung Quốc có thể đưa “sáng kiến tuyên truyền” này vào tài liệu chính thức của chính phủ Trung Quốc – cụ thể là Công hàm gửi Liên Hợp Quốc ngày 17 tháng 4 năm nay. Việc này nói lên điều gì? - Sputnik hỏi ông Lokshin.
Theo ông Grigory Lokshin, điều này trước hết nói lên tham vọng của Trung Quốc, muốn lợi dụng thời điểm cả thế giới đang bận tâm với cuộc chiến chống đại dịch coronavirus, để leo thang căng thẳng trong khu vực biển Đông và đưa ra các yêu cầu mới đối với Việt Nam, thậm chí đe dọa trực tiếp chống nước này. Đồng thời, Công hàm của Trung Quốc lần này lại một lần nữa nói lên rằng, Trung Quốc hoàn toàn không có bất kỳ bằng chứng thuyết phục nào trong việc xác nhận chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nếu có, Trung Quốc từ lâu đã giới thiệu chúng với cộng đồng thế giới.
"Do không có bằng chứng đáng tin cậy, chính quyền Trung Quốc buộc phải dùng đến những biện chứng hoàn toàn dối trá. Các dẫn chứng của Trung Quốc về cáí gọi là “công hàm Phạm Văn Đồng” không hề có ý nghĩa pháp lý nào và không hề có bất cứ cơ sở nào. Ngoài ra, các liên kết này còn phủ bóng đen lên một trong những nhà lãnh đạo được kính trọng nhất của Việt Nam và vẫn sống mãi trong ký ức của mọi người dân đất nước này như Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tôi cho rằng cần phải bảo vệ tên tuổi ông Phạm Văn Đồng trước những lời bịa đặt vu khống hiện đang được tất cả kẻ thù của Việt Nam sử dụng, đặc biệt là các thế lực phản động trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài, những người cáo buộc nhà lãnh đạo Việt Nam “đầu hàng Trung Quốc”. Sử dụng tất cả các phương tiện truyền thông hiện đại, tích cực hướng đến tất cả các nước trong Liên Hợp Quốc, các tổ chức quốc tế và phi chính phủ khác, Chính phủ Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ của Việt Nam đang làm tất cả mọi điều để mang sự thật đến với cộng đồng thế giới. Chân lý đó là: Trung Quốc không được quyền nêu yêu sách chủ quyền đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trong Biển Đông và không có lý do nhỏ nhất nào để tuyên bố rằng chính phủ VNDCCH thông qua Thủ tướng Phạm Văn Đồng "đã nhượng lại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc".
Cộng đồng khoa học Nga đồng cảm với những nỗ lực này của Việt Nam và tìm cách đóng góp vào việc giải quyết chính trị các tranh chấp trong Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc 1982.
Được đăng bởi Letunglam.sgu vào lúc 01:53 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Bài đăng mới hơn Bài đăng cũ hơn Trang chủ
Đăng ký: Bài đăng (Atom)

Hà Nội Tháng 7-2017

Hà Nội Tháng 7-2017
Hà Nội - Mùa Đông 1946 - Toàn quốc Kháng chiến

VỀ NGUỒN

VỀ NGUỒN
Dâng hương Chiến sĩ Rừng Sát-Cần Giờ

Thống kê

Bạn bè

Lưu trữ Blog

  • ▼  2022 (9)
    • ▼  tháng 12 (6)
      • ▼  thg 12 15 (6)
        • CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ VỚI NGA
        • Những thách thức đối với Liên minh châu Âu
        • LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
        • Chính sách ngăn chặn (Containment policy
        •  Tình hình nước Mỹ sau Thế chiến II Từ thế kỷ XIX...
        • SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”
    • ►  tháng 11 (3)
      • ►  thg 11 28 (2)
      • ►  thg 11 10 (1)
  • ►  2021 (9)
    • ►  tháng 10 (8)
      • ►  thg 10 18 (2)
      • ►  thg 10 15 (1)
      • ►  thg 10 09 (2)
      • ►  thg 10 05 (3)
    • ►  tháng 2 (1)
      • ►  thg 2 08 (1)
  • ►  2020 (11)
    • ►  tháng 11 (1)
      • ►  thg 11 25 (1)
    • ►  tháng 10 (2)
      • ►  thg 10 28 (2)
    • ►  tháng 9 (1)
      • ►  thg 9 05 (1)
    • ►  tháng 5 (4)
      • ►  thg 5 12 (1)
      • ►  thg 5 09 (1)
      • ►  thg 5 05 (1)
      • ►  thg 5 04 (1)
    • ►  tháng 4 (3)
      • ►  thg 4 21 (3)
  • ►  2019 (1)
    • ►  tháng 4 (1)
      • ►  thg 4 28 (1)
  • ►  2018 (4)
    • ►  tháng 10 (1)
      • ►  thg 10 26 (1)
    • ►  tháng 9 (1)
      • ►  thg 9 13 (1)
    • ►  tháng 3 (1)
      • ►  thg 3 31 (1)
    • ►  tháng 1 (1)
      • ►  thg 1 31 (1)
  • ►  2017 (19)
    • ►  tháng 12 (1)
      • ►  thg 12 08 (1)
    • ►  tháng 11 (3)
      • ►  thg 11 30 (2)
      • ►  thg 11 23 (1)
    • ►  tháng 9 (12)
      • ►  thg 9 11 (1)
      • ►  thg 9 10 (3)
      • ►  thg 9 02 (8)
    • ►  tháng 4 (2)
      • ►  thg 4 11 (2)
    • ►  tháng 1 (1)
      • ►  thg 1 24 (1)
  • ►  2016 (5)
    • ►  tháng 10 (1)
      • ►  thg 10 19 (1)
    • ►  tháng 9 (1)
      • ►  thg 9 30 (1)
    • ►  tháng 8 (1)
      • ►  thg 8 23 (1)
    • ►  tháng 4 (2)
      • ►  thg 4 04 (2)
  • ►  2015 (26)
    • ►  tháng 11 (4)
      • ►  thg 11 29 (1)
      • ►  thg 11 23 (2)
      • ►  thg 11 21 (1)
    • ►  tháng 10 (3)
      • ►  thg 10 28 (1)
      • ►  thg 10 09 (1)
      • ►  thg 10 07 (1)
    • ►  tháng 9 (12)
      • ►  thg 9 22 (1)
      • ►  thg 9 17 (6)
      • ►  thg 9 15 (2)
      • ►  thg 9 03 (1)
      • ►  thg 9 01 (2)
    • ►  tháng 8 (3)
      • ►  thg 8 30 (1)
      • ►  thg 8 03 (2)
    • ►  tháng 7 (2)
      • ►  thg 7 19 (2)
    • ►  tháng 3 (2)
      • ►  thg 3 31 (2)
  • ►  2014 (16)
    • ►  tháng 12 (1)
      • ►  thg 12 05 (1)
    • ►  tháng 11 (4)
      • ►  thg 11 24 (2)
      • ►  thg 11 04 (2)
    • ►  tháng 10 (4)
      • ►  thg 10 28 (4)
    • ►  tháng 6 (2)
      • ►  thg 6 12 (2)
    • ►  tháng 4 (5)
      • ►  thg 4 01 (5)
  • ►  2013 (11)
    • ►  tháng 11 (1)
      • ►  thg 11 11 (1)
    • ►  tháng 7 (1)
      • ►  thg 7 14 (1)
    • ►  tháng 6 (2)
      • ►  thg 6 28 (2)
    • ►  tháng 4 (1)
      • ►  thg 4 10 (1)
    • ►  tháng 2 (5)
      • ►  thg 2 11 (1)
      • ►  thg 2 08 (4)
    • ►  tháng 1 (1)
      • ►  thg 1 02 (1)
  • ►  2012 (62)
    • ►  tháng 11 (2)
      • ►  thg 11 15 (2)
    • ►  tháng 10 (1)
      • ►  thg 10 16 (1)
    • ►  tháng 8 (8)
      • ►  thg 8 17 (1)
      • ►  thg 8 10 (2)
      • ►  thg 8 02 (2)
      • ►  thg 8 01 (3)
    • ►  tháng 7 (5)
      • ►  thg 7 21 (1)
      • ►  thg 7 18 (1)
      • ►  thg 7 09 (3)
    • ►  tháng 6 (2)
      • ►  thg 6 19 (1)
      • ►  thg 6 02 (1)
    • ►  tháng 5 (9)
      • ►  thg 5 29 (5)
      • ►  thg 5 16 (1)
      • ►  thg 5 10 (1)
      • ►  thg 5 02 (2)
    • ►  tháng 4 (17)
      • ►  thg 4 30 (1)
      • ►  thg 4 22 (1)
      • ►  thg 4 21 (1)
      • ►  thg 4 19 (1)
      • ►  thg 4 17 (1)
      • ►  thg 4 13 (2)
      • ►  thg 4 11 (2)
      • ►  thg 4 10 (1)
      • ►  thg 4 09 (1)
      • ►  thg 4 06 (1)
      • ►  thg 4 04 (4)
      • ►  thg 4 01 (1)
    • ►  tháng 3 (18)
      • ►  thg 3 31 (2)
      • ►  thg 3 29 (1)
      • ►  thg 3 28 (6)
      • ►  thg 3 25 (2)
      • ►  thg 3 24 (3)
      • ►  thg 3 22 (4)

Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Letunglam.sgu
Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi

Khảo cứu thực địa

Khảo cứu thực địa
Chùa Vàm Ray - Trà Vinh

Quà tặng của Thầy!

Quà tặng của Thầy!

Huế - 2012

Huế - 2012
Cầu Tràng Tiền

Popular Posts

  • SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”
      SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”     Khái quát tình hình thế giới sau chiến tranh ...
  • HỘI NGHỊ HOÀ BÌNH VERSAILLÈS
    Hội nghị hoà bình Versaillès (1919-1920) H òa ước Versaill è s năm 1919 là hòa ước chính thức chấm dứt cuộc Chiến tranh thế giới lần...
  • Chính sách Lương thực của Nhật Bản
    VẤN ĐỀ LƯƠNG THỰC TRONG CHÍNH SÁCH CỦA NHẬT BẢN Ở NAM KÌ (1940 – 1945)                                                              ...
  • PHƯƠNG PHÁP TƯỜNG THUẬT LỊCH SỬ
    Phương pháp tường thuật Khái niệm - Tường thuật là một cách trình bày miệng quan trọng, nhằm tái hiện ở học sinh biến cố lịch sử quan t...
  • SỰ TIẾP XÚC VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI
    Th.S Lê Tùng Lâm [1] SỰ TIẾP XÚC GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI Thời kì cận đại của lịch sử thế giới bắt đầu từ sự thắng lợi c...
  • SỰ HÌNH THÀNH BA LÒ LỬA CHIẾN TRANH TRÊN THẾ GIỚI
    Sự hình thành 3 lò lửa chiến tranh trên thế giới. a) Lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông     Nhật Bản là nước đầu tiên có tham vọng phá v...
  • NHẬT BẢN THỜI CẬN ĐẠI
    Chương III NHẬT BẢN THỜI CẬN ĐẠI Meiji Duy tân- Nhật Bản thành “phú quốc cường binh” (1868-1894). 1. Năm lời thề nguyện của chính q...
  • Ứng dụng CNTT vào dạy học Lịch sử
  • NHẬT BẢN THỜI TRUNG ĐẠI
    Chương II NHẬT BẢN THỜI TRUNG ĐẠI Kamakura Bakufu (1185 - 1333). 1. Quá trình xác lập sự thống trị của Kamakura Bakufu. - Từ giữa...
  • THỜI BẮC THUỘC VÀ CÁC CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC
    Bài 15 THỜI BẮC THUỘC VÀ CÁC CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC (Từ thế kỉ II TCN đến đầu TK X). 1. Chế độ cai trị. Về chính trị...

Tìm kiếm

BÀI ĐĂNG

  • SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”
      SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”     Khái quát tình hình thế giới sau chiến tranh ...
  • HỘI NGHỊ HOÀ BÌNH VERSAILLÈS
    Hội nghị hoà bình Versaillès (1919-1920) H òa ước Versaill è s năm 1919 là hòa ước chính thức chấm dứt cuộc Chiến tranh thế giới lần...
  • Chính sách Lương thực của Nhật Bản
    VẤN ĐỀ LƯƠNG THỰC TRONG CHÍNH SÁCH CỦA NHẬT BẢN Ở NAM KÌ (1940 – 1945)                                                              ...
  • PHƯƠNG PHÁP TƯỜNG THUẬT LỊCH SỬ
    Phương pháp tường thuật Khái niệm - Tường thuật là một cách trình bày miệng quan trọng, nhằm tái hiện ở học sinh biến cố lịch sử quan t...
  • SỰ TIẾP XÚC VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI
    Th.S Lê Tùng Lâm [1] SỰ TIẾP XÚC GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI Thời kì cận đại của lịch sử thế giới bắt đầu từ sự thắng lợi c...
  • SỰ HÌNH THÀNH BA LÒ LỬA CHIẾN TRANH TRÊN THẾ GIỚI
    Sự hình thành 3 lò lửa chiến tranh trên thế giới. a) Lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông     Nhật Bản là nước đầu tiên có tham vọng phá v...
  • NHẬT BẢN THỜI CẬN ĐẠI
    Chương III NHẬT BẢN THỜI CẬN ĐẠI Meiji Duy tân- Nhật Bản thành “phú quốc cường binh” (1868-1894). 1. Năm lời thề nguyện của chính q...
  • Ứng dụng CNTT vào dạy học Lịch sử
  • NHẬT BẢN THỜI TRUNG ĐẠI
    Chương II NHẬT BẢN THỜI TRUNG ĐẠI Kamakura Bakufu (1185 - 1333). 1. Quá trình xác lập sự thống trị của Kamakura Bakufu. - Từ giữa...
  • THỜI BẮC THUỘC VÀ CÁC CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC
    Bài 15 THỜI BẮC THUỘC VÀ CÁC CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC (Từ thế kỉ II TCN đến đầu TK X). 1. Chế độ cai trị. Về chính trị...

Ảnh

Ảnh
cá nhân

Popular Posts

  • 250 CÂU ÔN THI LSTG 1945-2000
    Câu 1.        Trình bày những tiền đề dẫn tới cách mạng bùng nổ và thắng lợi ở Nga năm 1917. Câu 2.        Cách mạng t...
  • SỰ HÌNH THÀNH BA LÒ LỬA CHIẾN TRANH TRÊN THẾ GIỚI
    Sự hình thành 3 lò lửa chiến tranh trên thế giới. a) Lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông     Nhật Bản là nước đầu tiên có tham vọng phá v...
  • SỰ TIẾP XÚC VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI
    Th.S Lê Tùng Lâm [1] SỰ TIẾP XÚC GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI Thời kì cận đại của lịch sử thế giới bắt đầu từ sự thắng lợi c...
  • HỘI NGHỊ HOÀ BÌNH VERSAILLÈS
    Hội nghị hoà bình Versaillès (1919-1920) H òa ước Versaill è s năm 1919 là hòa ước chính thức chấm dứt cuộc Chiến tranh thế giới lần...
  • Chính sách Lương thực của Nhật Bản
    VẤN ĐỀ LƯƠNG THỰC TRONG CHÍNH SÁCH CỦA NHẬT BẢN Ở NAM KÌ (1940 – 1945)                                                              ...
  • PHƯƠNG PHÁP TƯỜNG THUẬT LỊCH SỬ
    Phương pháp tường thuật Khái niệm - Tường thuật là một cách trình bày miệng quan trọng, nhằm tái hiện ở học sinh biến cố lịch sử quan t...
  • CÂU HỎI ÔN TẬP SỬ 12
    CÂU HỎI ÔN THI TỐT NGHIỆP THPT MÔN: LỊCH SỬ 12 Câu 1.              Trình bày nội dung cơ bản của Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắ...
  • SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”
      SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”     Khái quát tình hình thế giới sau chiến tranh ...
  • HÃY ĐỌC KỸ VÀ SUY NGẪM NHÉ.
    Một nhà thông thái ngồi giữa đám đông và kể một câu chuyện cười.   Mọi người phá lên cười. Một lúc sau, Ông kể đi kể lại câu chuyện đó. ...
  • NHẬT BẢN THỜI TRUNG ĐẠI
    Chương II NHẬT BẢN THỜI TRUNG ĐẠI Kamakura Bakufu (1185 - 1333). 1. Quá trình xác lập sự thống trị của Kamakura Bakufu. - Từ giữa...

Danh sách Blog của Tôi

  • CON HỒNG CHÁU LẠC
    CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ VỚI NGA
    3 năm trước

Trang web liên kết

  • Học viên Khoa học Xã hội
  • Đại học sài Gòn
  • http://letunglamdhsg.blogspot.com
Powered By Blogger
Chủ đề Cửa sổ hình ảnh. Được tạo bởi Blogger.