LÊ TÙNG LÂM - ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Blog học thuật, phản ánh quan điểm của cá nhân.

Bài phổ biến

  • SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”
  • PHƯƠNG PHÁP TƯỜNG THUẬT LỊCH SỬ
  • VĂN HÓA YAYOI
  • SỰ TIẾP XÚC VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI
  • Chính sách Lương thực của Nhật Bản
  • HÌNH THÀNH TRI THỨC LỊCH SỬ CHO HỌC SINH
  • SỰ HÌNH THÀNH BA LÒ LỬA CHIẾN TRANH TRÊN THẾ GIỚI
  • 250 CÂU ÔN THI LSTG 1945-2000
  • NIỀM TIN CỦA TÂM LINH
  • ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ 10

28/10/14

VIỆN TRỢ KINH TẾ - KỸ THUẬT VÀ QUÂN SỰ CỦA LIÊN XÔ CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM TỪ 1954 ĐỄN 1975

TS Lê Văn Thịnh 
(Nguồn: Tạp chí Lịch sử quân sự số 242 (2-2012), tr.48- 55) 
          1. Quan hệ Việt Nam - Liên Xô được xây dựng và phát triển trên nền tảng quan hệ về chính trị giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Liên Xô. Từ năm 1950, sau khi có quan hệ ngoại giao giữa hai nhà nước, Chính phủ Liên Xô đã triển khai hoạt động nhiều mặt, nhằm hỗ trợ nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược của các nước đế quốc phương Tây, bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản của mình. Sự giúp đỡ Liên Xô với Việt Nam trong lịch sử là vấn đề được nhiều người quan tâm. Nhân kỷ niệm 62 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Liên Xô (30/1/1950 - 30/1/2012), với truyền thống tri ân, uống nước nhớ nguồn, công trình này tập trung làm rõ một số mặt trong sự chi viện, giúp đỡ của Liên Xô với Việt Nam trên hai lĩnh vực chính, viện trợ kinh tế, kỹ thuật và viện trợ quân sự những năm từ 1954 đến năm 1975.
         2. Thời kỳ nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng là thời kỳ diễn ra nhiều biến động phức tạp trong quan hệ quốc tế. Đó là sự bất đồng ngày càng nghiêm trọng giữa các đảng cầm quyền trong các nước xã hội chủ nghĩa về những vấn đề chiến lược và sách lược cách mạng; sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và phong trào không liên kết trong khung cảnh căng thẳng của chiến tranh lạnh Đông – Tây. Bối cảnh quốc tế đó đã tác động khá sâu sắc tới quan hệ Việt Nam - Liên Xô, tới sự chi viện, giúp đỡ của Liên Xô với Việt Nam, đặc biệt là chi viện, giúp đỡ về quân sự. Song nhờ những nổ lực chung của lãnh đạo hai nước, đặc biệt là phía Việt Nam, quan hệ Việt Nam - Liên Xô từng bước được xây dựng vững chắc và phát triển ngày càng toàn diện trên cơ sở các hiệp định, hiệp ước và nghị định song phương. Trong khoảng 20 năm, từ tháng 7 năm 1955 đến hết năm 1975, Chính phủ Liên Xô đã ký với Chính phủ Việt Nam 19 Hiệp định, 1 Hiệp ước và 1 Nghị định thư. Trong đó có trên 50 % là hiệp định về việc Liên Xô viện trợ, giúp đỡ Việt Nam trên hầu hết các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, văn hoá và khoa học, kỹ thuật[1]… Các hiệp định, hiệp ước và nghị định này là cơ sở pháp lý để Chính phủ Liên Xô xúc tiến các hoạt động chi viện, giúp đỡ Việt Nam thực hiện các kế hoạch khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, tăng cường tiềm lực quốc phòng, đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi.
Viện trợ về kinh tế và kỹ thuật.
Tháng 7 năm 1955, nhân chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ Liên Xô đã ký với Việt Nam một số hiệp định cho vay và viện trợ không hoàn lại, nhằm giúp Việt Nam khôi phục kinh tế sau kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày 18 tháng 7 năm 1955, theo thoả thuận giữa hai chính phủ, Liên Xô đã viện trợ cho Việt Nam 400 triệu rúp để thực hiện kế hoạch 3 năm (1955-1957). Trong đó có 171 triệu rúp để nhập các thiết bị toàn bộ phục vụ ngành công nghiệp, trước hết là xây dựng các nhà máy điện và hệ thống đường dây điện, trạm biến thế, đài khí tượng… ; 229 triệu rúp để nhập các máy móc lẻ và hàng hoá phục vụ nông nghiệp và cải thiện đời sống[2].
Những năm từ 1958-1960, khi Việt Nam thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo kinh tế, phát triển văn hoá, Liên Xô tiếp tục cho Việt Nam vay tín dụng dài hạn 450 triệu rúp, trong đó có 100 triệu rúp (hiệp định ký tháng 3 năm 1959) để thực hiên kế hoạch 3 năm (1958-1960) và 350 triệu rúp (hiệp định ký ngày 14 tháng 6 năm 1960) để mua trang thiết bị, máy móc xây dựng 46 nông trường quốc doanh, trong đó có 19 nông trường mới và củng cố 27 nông trường khác. Hầu hết các nông trường này đều trồng các loại cây nhiệt đới lâu năm, như: chè, cà phê, cao su và các loại cây ăn quả như: cam, chuối, dứa…. phục vụ xuất khẩu. Cũng thời gian này, Liên Xô còn giúp Việt Nam xây dựng 21 đài khí tượng thuỷ văn, 156 trạm thuỷ văn các cấp, chủ yếu phục vụ ngành nông nghiệp[3].
Khi Việt Nam thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), Liên Xô đã ký với Việt Nam nhiều hiệp định trợ giúp về kinh tế và kỹ thuật, như: Hiệp định về việc Liên Xô giúp Việt Nam thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân những năm từ 1961-1965 (ký ngày 23 tháng 12 năm 1960); Hiệp định về việc Liên Xô giúp đỡ về kinh tế và kỹ thuật, cung cấp thiết bị và vật liệu cho Việt Nam trong việc xây dựng và mở rộng một số xí nghiệp và công trình công nghiệp (ký ngày 15 tháng 9 năm 1962)... Theo tinh thần các hiệp định này, Liên Xô giúp Việt Nam 460 triệu rúp, bao gồm các khoản cho vay tín dụng dài hạn và viện trợ không hoàn lại; hỗ trợ Việt Nam các thiết bị kỹ thuật, vật liệu để xây dựng các nhà máy và nhiều công trình dân dụng khác.
Cho đến cuối năm 1964, Liên Xô đã giúp Việt Nam cải tạo và xây dựng 90 xí nghiệp và công trình dân dụng, bao gồm 43 công trình công nghiệp, 46 nông trường quốc doanh và một số trường đại học, bệnh viện. Trong số các công trình công nghiệp được Liên Xô hỗ trợ 100% vốn và vật tư, kỹ thuật, đáng chú ý nhất là 7 nhà máy điện (Vinh, Thanh Hoá, Lào Cai, Phú Thọ, Phả Lại, Tà Sa, Nà Ngần) với tổng công suất là 71.300 ki -lô-oát và 8 đường dây tải điện dài 130 kilômét. Nhiều công trình khai khoáng và xí nghiệp chế biến thực phẩm khác, như: mỏ thiếc Tĩnh Túc Cao Bằng, mỏ apatít Lào Cai, nhà máy cá hộp Hải Phòng[4]… cũng được Liên Xô hỗ trợ, đầu tư  xây dựng trong thời kỳ này.
Từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc và tiến hành cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam, Chính phủ Liên Xô lên án mạnh mẽ hành động leo thang chiến tranh của Mỹ và công khai viện trợ nhiều mặt cho Việt Nam. Từ năm 1965 đến năm 1975, Liên Xô đã ký với Việt Nam 12 Hiệp định, trong đó có tới 7 Hiệp định về việc Liên Xô cam kết “giúp đỡ thêm”, “viện trợ thêm không hoàn lại” cho Việt Nam, như:Hiệp định về việc Chính phủ Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết viện trợ thêm không hoàn lại về kinh tế cho Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (ký ngày 10 tháng 7 năm 1965); Hiệp định giữa Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết về việc giúp đỡ thêm về kỹ thuật cho nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (ký ngày 21 tháng 12 năm 1965); Hiệp định về việc Chính phủ Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết viện trợ không hoàn lại về kinh tế cho Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trong năm 1966 (ký ngày 21 tháng 12 năm 1965);  Hiệp định về việc Chính phủ Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết viện trợ không hoàn lại cho Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (ký ngày 25 tháng 11 năm 1968)[5]…
            Đầu tháng 7 năm 1973, để giúp nhân dân Việt Nam nhanh chóng khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh phá hoại lần 2 của Mỹ, Uỷ ban trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã thông qua quyết định: coi tất cả các khoản tín dụng cho Việt Nam vay trong những năm trước đó nhằm phát triển kinh tế là viện trợ không hoàn lại. Theo tinh thần đó, ngày 12 tháng 7 năm 1973, Chính phủ Liên Xô đã ký với Chính phủ Việt Nam Hiệp định miễn cho Việt Nam trả các khoản nợ đã vay[6]. Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, đây là quyết định rất quan trọng, thể hiện tình hữu nghị, sự cảm thông, chia sẻ và quan tâm to lớn của Đảng và Chính phủ Liên Xô với nhân dân Việt Nam. Các khoản tín dụng không phải hoàn lại đó đã góp phần cổ vũ và trợ giúp nhân dân Việt Nam trong việc khôi phục nền kinh tế miền Bắc sau chiến tranh phá hoại và đẩy nhanh các chiến lược quân sự, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam vào đầu năm 1975.
Trong khoảng 20 năm (1955-1974), tổng giá trị các vật tư kỹ thuật và thiết bị toàn bộ mà Liên Xô đưa vào Việt Nam để xây dựng và phát triển kinh tế, chủ yếu bằng con đường viện trợ và cho vay là 2.176.051.000 rúp. Với số vật tư kỹ thuật và thiết bị toàn bộ này, Liên Xô đã xây dựng 135 xí nghiệp công nghiệp và công trình dân dụng ở Việt Nam, bao gồm 46 công trình cho ngành điện lực; 5 công trình cho ngành khai thác khoáng sản; 19 công trình cho ngành cơ khí, luyện kim; 41 công trình cho ngành giao thông vận tải; 1 công trình cho ngành hoá chất; 3 công trình cho ngành vật liệu xây dựng và 20 công trình cho ngành nông nghiệp[7]. Các công trình công nghiệp do Liên Xô giúp đỡ xây dựng, như: các nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện, mỏ than Vàng Danh, mỏ thiếc Tĩnh Túc, Nhà máy cơ khí Hà Nội, Nhà máy Super phốt phát Lâm Thao, nhà máy chè Phú Thọ, nhà máy cá hộp Hải Phòng…đã góp phần xây dựng mới một số ngành công nghiệp ở Việt Nam. Đếncuối những năm 60, các nhà máy, xí nghiệp do Liên Xô xây dựng ở miền Bắc Việt Nam đã sản xuất được 46% năng lượng điện, 90% than đá, trên 80% máy cắt kim loại và 100% sản lượng khai thác các loại quặng apatít, thiếc và super phốt phát.
           Cùng với việc hỗ trợ các máy móc, thiết bị toàn bộ, các khoản tiến dụng dài hạn và viện trợ không hoàn lại để xây dựng, phát triển kinh tế, Chính phủ Liên Xô còn giúp Việt Nam phát triển ngành giáo dục, đào tạo và trực tiếp đào tạo cán bộ cho Việt Nam. Từ năm 1955 và nhiều năm sau đó, các hiệp định về hợp tác, trao đổi trên các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và đào tạo giữa Việt Nam và Liên Xô đã được ký kết và thường xuyên được bổ xung. Theo hướng đó, Liên Xô đã giúp Việt Nam xây dựng mới một số trường đại học, như: trường Đại học Bách khoa Hà Nội, trường Đại học Nông nghiệp I, đồng thời hỗ trợ tu sửa, nâng cấp, xây dựng mới một số trường dạy nghề khác. Đến đầu những năm 70 đã có trên 7.000 nam, nữ thanh niên Việt Nam được đưa sang học tập và công tác tại Liên Xô. Trong số đó có 4.500 người được đào tạo trong các trường đại học tại 35 thành phố của Liên Xô lúc bấy giờ. Đây là nguồn nhân lực rất quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhiều người trong số đó sau này đã trở thành những nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, những nhà khoa học đầu ngành, những chuyên gia, nhà quản lý trên rất nhiều lĩnh vực ở Việt Nam. Cũng thời gian đó, nhiều chuyên gia kinh tế và kỹ thuật giàu kinh nghiệm của Liên Xô cũng được Chính phủ Xô Viết đưa sang công tác tại Việt Nam. Chỉ trong 5 năm, từ 1955 đến 1960, Liên Xô đã cử sang Việt Nam 1.547 chuyên gia trên hầu hết các lĩnh vực giúp nhân dân Việt Nam xây dựng và phát triển kinh tế, giúp Việt Nam đào tạo tại chỗ 7.000 công nhân cho các ngành nghề khác nhau[8].

Viện trợ về quân sự

Đi đôi với viện trợ về kinh tế và kỹ thuật, Chính phủ Liên Xô còn viên trợ Việt Nam các mặt hàng chiến lược về quân sự, giúp Việt Nam tăng cường tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ tổ quốc. Theo một nguồn tài liệu của Việt Nam, tổng trọng lượng các mặt hàng quân sự, bao gồm cả hậu cần quân sự và kỹ thuật quân sự mà Chính phủ Liên Xô viện trợ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước là 513.582 tấn. Các mặt hàng quân sự này được Chính phủ Liên Xô thực hiện qua nhiều giai đoạn với số lượng khác nhau, cao nhất là giai đoạn (1965-1968): 226.969 tấn; tiếp đến là giai đoạn (1969-1972): 143.793 tấn; giai đoạn (1973-1975): 65.601 tấn; giai đoạn (1961-1964): 47.223 tấn và cuối cùng, thấp nhất là giai đoạn (1955-1960): 29.996 tấn.
Riêng về các mặt hàng kỹ thuật, chủng loại các vũ khí, khí tài Liên Xô viện trợ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ khá phong phú. Đem so với viện trợ chung về quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa, chúng tôi thấy:
Về súng: Liên Xô đã viện trợ Việt Nam 439.198 khẩu súng bộ binh, chiếm 12,17%; 5.630 khẩu súng chống tăng, chiếm 8,6% và 1.076 khẩu súng cối các loại, chiếm 3,8% viện trợ cùng loại của các nư­ớc xã hội chủ nghĩa.
Về pháo và đạn pháo: Liên Xô đã viện trợ Việt Nam 1.877 khẩu pháo hoả tiễn, chiếm 86,6%; 789 khẩu pháo mặt đất, chiếm 32,5% và 480 quả đạn tên lửa K681, chiếm 50% viện trợ cùng loại của các nư­ớc xã hội chủ nghĩa.
Về máy bay và tàu chiến: Liên Xô đã viện trợ Việt Nam 316 chiếc máy bay (bao gồm máy bay chiến đấu và máy bay vận tải quân sự), chiếm 69%; 52 chiếc tàu chiến hải quân, chiếm 63,4% và 21 chiếc tàu vận tải hải quân, chiếm 14,1% viện trợ cùng loại của các nước xã hội chủ nghĩa.
Về các loại xe và các thiết bị kỹ thuật quân sự phục vụ thông tin liên lạc, phục vụ công tác hậu cần, giao thông vận tải, Liên Xô đã viện trợ Việt Nam 687 chiếc xe tăng các loại, chiếm 55%; 601 chiếc xe vỏ thép, chiếm 62,5%;1.332 chiếc xe xích kéo pháo, chiếm 55,2%; 498 chiếc xe chuyên dùng (xe đặc chủng), chiếm 5,2%; 100 chiếc xe máy công trình, chiếm 2,4%; 12 bộ phao cầu, chiếm 30%; 56 bộ ống dẫn dầu, chiếm 50%; 4.500 km đường ống dẫn dầu dã chiến, chiếm 90% và 37 bộ thiết bị toàn bộ về kỹ thuật quân sự chiếm 58,7% viện trợ cùng loại của các nư­ớc xã hội chủ nghĩa.
Là quốc gia có nền công nghiệp quốc phòng hùng mạnh, Liên Xô còn là nước duy nhất đã viện trợ Việt Nam 647 bộ điều khiển; 1.357 bệ phóng tên lửa; 10.169 quả đạn tên lửa; 23 quả tên lửa SA 75M; 8.686 quả đạn tên lửa VT 50v và  2 trung đoàn tên lửa S125[9].
Thêm vào đó, sau sự kiện Vịnh Bắc bộ tháng 8 năm 1964 và khi bất đồng Xô - Trung đã bộc lộ công khai, nguyên tắc “giúp đỡ chung”[10] giữa Liên Xô và Trung Quốc với Việt Nam không còn hiệu lực, việc quá cảnh hàng hóa viện trợ của Liên Xô qua Trung Quốc gặp khó khăn, phần lớn các trang thiết bị kỹ thuật, khí tài quân sự và các loại vật tư, hàng hoá khác mà Liên Xô viện trợ Việt Nam đã được các hải đoàn Xô Viết trực tiếp vận chuyển tới Việt Nam bằng đường biển, bất chấp mọi nguy hiểm bởi sự phong toả gắt gao và đánh phá rất ác liệt của lực lượng không quân Mỹ trên vùng biển miền Bắc Việt Nam. Một số tàu của Liên Xô như, tàu Polock, tàu Turkestan… đã bị máy bay mỹ bắn phá khi đang làm nhiệm vụ quốc tế trên các cảng biển miền Bắc Việt Nam.
Ngoài ra, theo thoả thuận giữa hai nhà nước, Chính phủ Xô Viết đã cử nhiều chuyên gia quân sự giàu kinh nghiệm sang công tác tại Việt Nam. Số lượng các chuyên gia quân sự Liên Xô sang Việt Nam ngày càng đông khi đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh, dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc. Theo một nguồn tài liệu từ Liên Xô, chỉ tính từ ngày 11 tháng 7 năm 1965 đến ngày 31 tháng 12 năm 1974, Liên Xô đã cử 10.859 lượt chuyên gia quân sự, từ chiến sĩ đến cấp tướng sang giúp Việt Nam xây dựng lực lượng phòng không – không quân, chống chiến tranh phá hoại của Mỹ. Trong quá trình công tác tại Việt Nam, 13 người trong số đó đã hy sinh (4 người hy sinh trong chiến đấu)[11].
3. Từ những cứ liệu về việc Liên Xô chi viện, giúp đỡ Việt Nam trong thời kỳ Việt Nam chống Mỹ cứu nước, có thể rút ra một số nhận xét:
           Một là, cần phải khẳng đinh rằng, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ở tất cả mọi giai đoạn, Việt Nam luôn nhận được sự giúp đỡ cả về kinh tế, kỹ thuật lẫn quân sự của Liên Xô. Điều đó đã chứng tỏ, việc chi viện, giúp đỡ nhân dân Việt Nam thời kỳ này là một chủ trương nhất quán trong đường lối đối ngoại và chính sách đối ngoại của Chính phủ Xô Viết. Mặc dù sự giúp đỡ đó, nhất là giúp đỡ về quân sự, luôn bị chi phối bởi nhiều yếu tố, như: tình hình quốc tế và tương quan lực lượng trên thế giới; chính sách đối ngoại hoà bình của Liên Xô và chủ trương, giải pháp cụ thể của giới lãnh đạo Xô Viết trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, cũng như khả năng tiếp nhận và sử dụng của Việt Nam… Song nhìn chung, động thái viện trợ Việt Nam của Liên Xô là thường xuyên, liên tục và phát triển theo chiều hướng tích cực. Liên Xô từ chỗ là “quan sát viên”, người đứng ngoài, gián tiếp tác động vào tình hình Việt Nam trong những năm 1954-1964, tiến tới công khai, trực tiếp viện trợ Việt Nam từ năm 1965 về sau. Sự giúp đỡ đó đã có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với cách mạng Việt Nam, góp phần hỗ trợ Đảng Cộng sản Việt Nam phát triển thế và lực, thực hiện chính sách tập hợp lực lượng trong và ngoài nước, hình thành sức mạnh tổng hợp cho cách mạng. Chính vì vậy, khi đánh giá vai trò của tình hữu nghị Xô - Việt, ngay từ  năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tình hữu nghị giữa Liên Xô và Việt Nam là một vấn đề hết sức quan trọng về phương diện quốc tế. Tình hữu nghị đó là một nhân tố quan trọng đảm bảo cho thắng lợi của nhân dân Việt Nam đang đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc”[12]. Mặc dù vậy, xuất phát phương châm tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn các lực lượng cách mạng Việt Nam là: “Tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà sinh ra ỷ lại”[13].
Hai là, trong lĩnh vực quân sự, cũng như­ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam thời chống Mỹ không nhiều lắm, chỉ chiếm 25,76% viện trợ chung của các nư­ớc xã hội chủ nghĩa
[14]. Song điều quan trọng là những mặt hàng quân sự mà Liên Xô viện trợ cho Việt Nam lúc bấy giờ phần lớn là những vũ khí, khí tài chiến lược, có tính dã chiến, tiến công cao, uy lực mạnh, như­ pháo hoả tiễn, xe tăng, xe bọc thép... đặc biệt là tàu chiến, máy bay, tên lửa, cùng nhiều vật tư­, khí tài khác phục vụ cho công tác chỉ huy và tham mưu. Đó là những vật tư, khí tài thiết yếu để Việt Nam phát triển các binh chủng phòng không, không quân và hải quân, đẩy nhanh quá trình xây dựng lực lượng vũ trang chính quy hiện đại. Cùng với sự giúp đỡ hiệu quả trong lĩnh vực kinh tế, viện trợ quân sự của Liên Xô đã góp phần hỗ trợ Việt Nam tăng cư­ờng sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân và năng lực tác chiến của lực lượng vũ trang nhân dân, giáng trả có hiệu quả các cuộc tập kích bằng không quân, hải quân của Mỹ trên vùng biển, vùng trời miền Bắc và đánh bại các chiến lư­ợc quân sự của chúng ở miền Nam, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Ba là, đi đôi với viện trợ vật chất, Liên Xô còn hỗ trợ Việt Nam nguồn lực trí tuệ thông qua công tác đào tạo cán bộ và đội ngũ chuyên gia, cố vấn Xô Viết trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và quân sự; vừa giúp Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; vừa giúp xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân chính quy hiện đại. Theo đó, các tư tưởng về kinh tế, văn hoá; về khoa học và nghệ thuật quân sự Xô Viết cũng được truyền vào Việt Nam, góp phần hình thành đội ngũ cán bộ mới trên tất cả các lĩnh vực và gia tăng thêm sức hấp dẫn của “con đường Xô Viết”, cũng như "mô hình Xô Viết" ở Việt Nam. Cùng với sự giúp đỡ của Đảng, Chính phủ Liên Xô, máu đào của các chiến sĩ - chuyên gia quân sự Xô Viết đổ xuống miền Bắc Việt Nam trong thời gian chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã tô thắm thêm tình hữu nghị Xô - Việt.
         Sau sự kiện ngày 19 tháng 8 năm 1991, Liên Xô đi vào tan rã. Nh­­ưng những giúp đỡ hiệu quả, giàu tình nghĩa quốc tế vô sản mà Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô dành cho Việt Nam trong những năm Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã in một dấu ấn rất sâu đậm trong tâm trí mỗi người Việt Nam. Sự giúp đỡ đó, như lời Hồ Chí Minh nhận định, là "thiên kinh, địa nghĩa" mà các thế hệ người Việt Nam, với tình cảm thủy chung luôn ghi nhớ. Cho dù thời thế có đổi thay, song sự chia sẻ, giúp đỡ Việt Nam của Liên Xô trong quá khứ là vô giá và không gì có thể so sánh đư­­ợc.
Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hoá, những thành tựu đạt được và những kinh nghiệm quý báu từ sự hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lịch sử và đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng Cộng sản Việt Nam, muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế đã và đang là điểm xuất phát quan trọng để Việt Nam và Liên bang Nga tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền thống hợp tác nhiều mặt phù hợp với yêu cầu của đối tác chiến lược, phấn đấu vì mục tiêu hoà bình, độc lập và phát triển trên một cơ sở mới, lâu dài và cùng có lợi.


[1] Xem, Việt Nam – Liên Xô 30 năm quan hệ (1950-1980), Nxb. Ngoại giao Hà Nội, 1983.
[2] Các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đã giúp chúng ta từ năm 1955 đến nay, tr 1. Phòng lưu trữ Bộ Thương mại. 
[3] Tham khảo, Đặng Phong (Chủ biên), Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, Tập II: 1955-1975, Nxb KHXH, Hà Nội, 2005, tr 281; xem thêm, Phạm Quang Minh, Quan hệ Việt Nam – Liên Xô trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), Tạp chí Lịch sử  quáan sự, số 205 (1/2009), tr 16.
[4] Nguồn: Các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đã giúp chúng ta từ năm 1955 đến nay, tlđd, tr 1. xem thêm: Sự hợp tác quốc tế giữa ĐCS Liên Xô và ĐCS Việt Nam lịch sử va hiện tại. Nxb. ST Hà Nội, 1987 tr 309; cũng xem: Việt Nam – Liên Xô 30 năm quan hệ (1950-1980), Nxb Ngoại giao Hà Nội, 1983, tr 57-60; Bùi Công Trừng: Ý nghĩa viện trợ vô tư của Liên Xô và cái gọi là “viện trợ Mỹ” – trong: Cách mạng tháng Mười và sự thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương. Nxb ST Hà Nội 1957.
[5] Xem: Việt Nam – Liên Xô 30 năm quan hệ (1950-1980). Sdd.
[6] Sự hợp tác quốc tế giữa ĐCS Liên Xô và ĐCS Việt Nam lịch sử va hiện tại. Sdd. Tr 324. Xem thêm, Đặng Phong (Chủ biên),Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, Tập II: 1955-1975, Sdd, tr 474.
[7] Tham khảo: Đặng Phong (Chủ biên), Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, Tập II: 1955-1975, Nxb KHXH, Hà Nội, 2005, tr 483.
[8] Dẫn theo Phạm Quang Minh, Quan hệ Việt Nam – Liên Xô trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), Tạp chí Lịch sử  quáan sự, số 205 (1/2009), tr 16. Cũng xem: Sự hợp tác quốc tế giữa ĐCS Liên Xô và ĐCS Việt Nam lịch sử và hiện tại, Sdd, tr 310
[9] Xem: Trần Tiến Hoạt và Lê Quang Lạng: Nguồn chi viện to lớn của Liên Xô, Trung Quốc vấ các nước xã hội chủ nghĩa. Báo QĐND số 15791, thứ 4 ngày 13 thág 4 năm 2005. Tr 2, 
[10]  Để tránh đối đầu với Mỹ, từ năm 1950, ngay sau khi xác lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, Liên Xô và Trung Quốc đã đi tới thoả thuận: tát cả mọi viện trợ về quân sự của Liên Xô cho Việt Nam đều được tiến hành thông qua Trung Quốc, do Trung Quốc điều phối, với danh nghĩa là “sự giúp đỡ chung”. Tham khảo: Sự thật về những lần xuất quân của trung Quốc và quan hệ Việt - Trung,Nxb Đà Nẵng, 1996, tr 20. Gần đây, nhà sử học Nga, TS Anatoli Xocolov, thông qua nguồn tài liệu lưu trữ của Bộ ngoại giao Nga cũng đề cập và xác nhận xu hướng này. Xem Điện Biên Phủ trong những bước đầu trên con đường chung: Liên Xô và Việt Nam (1945-1954) – "50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và sự nghiệp đổi mới phát triển đất nước",  Nxb KHXH Hà Nội 2004, tr 195
[11] Xem Cao Đắc Trung, “Chiến tranh Việt Nam là thế đó (1965-1973), Tạp chí Lịch sử quân sự, số 205 (1/2009), tr 45. Nguồn tài liệu mà tác giả sử dụng còn cho biết, trong thời gian từ 1965-1973, Liên Xô đã đào tạo, huấn luyện, viện trợ cho Việt Nam 10 trung đoàn tên lửa Phòng không, 2 trung đoàn Không quân tiêm kích và 3 trung đoàn ra đa cảnh giới.
[12] Dẫn theo: Sự hợp tác quốc tế giữa ĐCS Liên Xô và ĐCS Việt Nam lịch sử và hiện tại, Nxb ST Hà Nội, 1987, tr 333.
[13] Hồ Chí Minh: Toàn tập. Tập 8. Nxb. CTQG Hà Nội, 2000, tr 30
[14]Trung Quốc, Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumani, Bungari, Hunggari, CHDC Đức, CHND Triều Tiên và Cu Ba. Sách  Chiên tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 thắng lợi và bài học, Nxb CTQG H, 2000, tr 601 cho biết, viện trợ quân sự của các nước XHCN cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước như sau: giai đoạn 1955-1960: 49.585 tấn, bao gồm 4.105 tấn hàng hậu cần và 45.480 tấn kỹ thuật (vũ khí, khí tài, vật tư, đạn dược); tương tự vậy, giai đoạn 1961-1964: 300.065 tấn, bao gồm 230 tần hậu cần, 70.065 tấn kỹ thuật; giai đoạn 1965-1968: 517.493 tấn, bao gồm 105.614 tấn hậu cần, 411.879 tấn kỹ thuật; giai đoạn 1969-1972: 1.000.796 tấn, bao gồm 316.130 tấn hậu cần và 684.666 tấn kỹ thuật; giai đoạn 1973-1975: 124.513 tấn, bao gồm 75.267 tấn hậu cần và 49.246 tấn kỹ thuật. Như vậy, tổng trọng lượng các mặt hàng quân sự  mà các nước XHCN viện trợ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là 1.992.452 tấn.
Được đăng bởi Letunglam.sgu vào lúc 14:25 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
CUỘC CHIẾN NHIỆM KỲ CỦA CÁC TỔNG THỐNG HOA KỲ Ở CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM (1954-1975)
THỨ HAI, 27 THÁNG 10 2014 02:23

Từ năm 1954 đến năm 1975, lịch sử thế giới ghi nhận cuộc chiến tranh khốc liệt ở Việt Nam, mà thực chất là cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống sự xâm lược của Hoa Kỳ. Bởi nhiều lý do, các diễn biến cuộc chiến đấu gay go quyết liệt ở chiến trường Việt Nam có ảnh hưởng to lớn đến chính trưòng Hoa Kỳ và ngược lại, mọi chính sách quyết định về chiến tranh ở Việt Nam từ Nhà Trắng đều ảnh hưởng đến tiến trình cuộc chiến.
 Trong 21 năm theo đuổi chiến tranh ở Việt Nam, các Tổng thống Hoa Kỳ đã để lại một bức tranh đen tối trong lịch sử nước Mỹ, nhất là thời gian cầm quyền của Tổng thống L. Johnson (1965-1968) và R. Nixon (1969-1974). Bài viết này, tập trung phân tích sự thất bại của các kế hoạch xâm lược Việt Nam của các Tổng thống Hoa Kỳ, từ mối quan hệ giữa chiến trường Việt Nam với chính trường Hoa Kỳ, dưới thời hai tổng thống kể trên.
Do ảnh hưởng lớn của chiến trường Việt Nam đến chính trường Hoa Kỳ nên các Tổng thống Mỹ thường xuyên sử dụng lá bài chính trị Việt Nam để tranh giành ảnh hưởng. Yếu tố này mạnh đến mức phần lớn các ứng cử viên tổng thống, trong thời kỳ cuộc chiến tranh đang diễn ra, luôn hứa hẹn với cử tri rằng sẽ có kết cục tốt đẹp ở Việt Nam, đều lấy chủ đề chấm dứt chiến tranh Việt Nam để tranh thủ lá phiếu. Hai đảng đối lập ở Mỹ là Cộng hòa và Dân chủ cũng thường xuyên đấu tranh với nhau trên địa hạt chính trị này, nhất là trong thời kỳ vận động bầu cử. Ngay những nhân vật tranh cử ở thời kỳ sau này, như Bush (cha và con) và Bill Clinton, cũng từng lấy một nội dung có liên quan đến cuộc chiến Việt Nam để tranh cử. Gần đây nhất, trong lần tranh cử Tổng thống của mình, ông Barack Obama vẫn nhắc đến hồi ức chiến tranh Việt Nam qua sự kiện Khe Sanh.
Tuy nhiên, những nội dung từng hứa hẹn giải quyết vấn đề Việt Nam, trong thời gian vận động bầu cử, thưòng không được thực hiện sau khi họ trúng cử. Điển hình là L. Johnson và R. Nixon. Vì thế, dư luận Hoa Kỳ chỉ rõ rằng L. Johnson là ứng cử viên hòa bình, tổng thống chiến tranh. Còn R. Nixon, người từng hứa khi tranh cử là vãn hồi hòa bình ở Việt Nam trong danh dự thì thực chất là người hiếu chiến nhất trong 5 đời Tổng thống Hoa Kỳ dính líu vào chiến tranh Việt Nam. Hứa hẹn hòa bình rồi sau đó thất hứa, mở rộng chiến tranh... trở thành chu kỳ (gần như) lặp lại 4 năm một lần ở Washington.
Thống thường, ở năm đầu lên cầm quyền, các Tổng thống Hoa Kỳ bắt đầu triển khai kế hoạch của mình ở Việt Nam: Tổng thống F. Kennedy triển khai chiến lược chiến tranh đặc biệt vào đầu năm 1961. L. Johnson, tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ, thi hành chiến lược chiến tranh cục bộ ngay năm 1965. Cũng tương tự, tân Tổng thống Richard Nixon đã áp dụng chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh ngay trong năm 1969.
Bởi sắp đặt tính toán lợi ích của người tranh cử sau trúng cử tổng thống, nên năm đầu của nhiệm kỳ, những suy tính ở Washington về chiến trường Việt Nam có phần dịu hơn. Đây là một đặc điểm được dư luận Hoa Kỳ gọi là “tuần trăng mật” giữa cử tri và tân tổng thống. Nhưng từ năm thứ 2 và đặc biệt năm thứ 3, các chính khách Hoa Kỳ đã đẩy cuộc chiến ở Việt Nam lên đỉnh cao. Đặc điểm này đã trở thành vấn đề có tính qui luật trong vận hành chiến tranh Việt Nam của hai đời tổng thống Hoa Kỳ, từ năm 1965 đến 1974.
Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, tổng thống có quyền hành rất lớn. Đặc biệt, các tổng thống đã sử dụng tối đa quyền lực đó trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, theo hướng tỷ lệ thuận với thời gian cầm quyền. Bàn về đặc điểm này, trong vai trò Bộ trưởng Quốc phòng và trong tư cách tham vấn cho Tổng thống L. Johnson, Robert S. McNamara đã chỉ ra mô hình dưới đây, với khuyến nghị là Tổng thống Hoa Kỳ có rất nhiều quyền lực và hãy sử dụng hết tất cả quyền lực mà cơ quan lập pháp trao cho tổng thống. Ý kiến của Robert S. McNamara được L. Jonhson tán đồng[1].
Trong ngót 10 năm (1965-1973), giai đoạn ác liệt nhất của cuộc chiến tranh ở Việt Nam, các tổng thống Hoa Kỳ đã đẩy các bước phiêu lưu quân sự của mình lên đỉnh điểm vào năm cuốỉ trước nhiệm kỳ bầu cử tổng thống mới.  Trước và trong thòi gian vận động tranh cử, các ứng cử viên đều nêu bật chương trình kết thúc chiến tranh Việt Nam. Các chính khách Hoa Kỳ hiểu rõ nguyện vọng cử tri là phải kết thúc cuộc chiến tranh tàn bạo và tốn kém nên họ phải tự kiềm chế chiến sự, tung dư luận hòa bình ở Việt Nam… Trong thời gian vận động tranh cử, cách thức này đã trở thành lá bài quan trọng cho các ứng cử viên muốn trở thành người lãnh đạo Nhà Trắng.
Năm 1964, Hoa Kỳ sa lầy trong chiến lược chiến tranh đặc biệt ở miền Nam Việt Nam, hướng giải quyết là dùng ngoại giao hòa bình chấm dứt chiến tranh hoặc là dùng vũ lực vượt trội để khuất phục lực lượng giải phóng. Lúc đó, trả lời vấn đề này, ứng cử viên L. Johnson đã hứa với cử tri Hoa Kỳ sẽ tìm giải pháp chính trị hòa bình cho cuộc khủng hoảng ở miền Nam. Tuy nhiên, sau khi trúng cử 4 tháng, L. Johnson đã nuốt lời và nhanh chóng phát động cuộc chiến tranh cục bộ, từng bước leo thang chiến tranh và đỉnh cao là đến cuối năm 1967. Và chính tại thời điểm đó, ông ta lại phải tìm cách tháo gỡ, kiềm chế cuộc chiến vì mùa bầu cử mới đã đến.
Chính sách của L. Johnson với cuộc chiến ở Việt Nam trước và sau ngày bầu cử phản ánh những toan tính chung của các chính khách Hoa Kỳ ở những thời điểm nhạy cảm. Những toan tính này còn thể hiện sâu rộng hơn qua sự thao túng của Nixon.
Trong chiến dịch tranh cử năm 1968, khi đảng của tổng thống và cá nhân Tổng thống L.Johnson đang sa lầy trong chiến tranh Việt Nam, ứng cử viên Tổng thống Nixon đã nắm cơ hội này để quảng bá cho chương trình nghị sự của mình. Nixon hứa chắc với cử tri Hoa Kỳ khi trúng cử sẽ kết thúc chiến tranh, rút quân về nước và khép lại chương lịch sử đen tối của Hoa Kỳ do Tổng thống L. Johnson tạo nên. Tuy nhiên, cũng giống như người tiền nhiệm, khi trở thành Tổng thống, R. Nixon đã tiếp tục cuộc chiến tranh ỏ Việt Nam vối mức độ tàn bạo hơn, mở rộng chiến tranh trên bộ sang Campuchia (1970) và Lào (1971).
Năm 1972, kết thúc nhiệm kỳ thứ nhất, chuẩn bị cho mùa tranh cử mới, R. Nixon lại trở thành “con bồ câu mới”, như dư luận Hoa Kỳ đánh giá. Càng gần đến ngày bầu cử, R. Nixon càng thổi phồng dư luận bằng luận điểm hòa bình ở Việt Nam đã trong tầm tay, Hoa Kỳ sẽ ký hiệp định hòa bình trong danh dự[2]. Mặt khác, bè đảng của ông ta còn làm việc xấu xa là nghe lén đối phương, để giành thế chủ động trong tranh cử[3].
Nhưng ngay sau khi trúng cử Tổng thống nhiệm kỳ 2, R. Nixon đã bộc lộ đầy đủ nhất bản chất hiếu chiến của mình, bởi trước mắt ông ta không còn băn khoăn về tương lai chính trị trong 4 năm tới nữa vì Tổng thống Hoa Kỳ chỉ được tại chức 2 nhiệm kỳ. R. Nixon đã dồn tất cả khả năng quân sự có thể huy động được của Hoa Kỳ vào cuộc chiến ở Việt Nam. Điển hình là chiến dịch Line Backer II, dùng máy bay chiến lược B.52 đánh phá hủy diệt các thành phố ở miền Bắc, làm cho Hà Nội không còn 2 viên gạch dính vào nhau - như lời kẻ hiếu chiến đầy cao ngạo của Hoa Kỳ từng nói.
Chiến dịch này được thực hiện đúng 1 tháng sau khi R. Nixon tái trúng cử Tổng thống. Thắng lợi ở chính trường Washington, vào tháng 11-1972, đã tạo thế cho R. Nixon ra đòn thâm hiểm đối với miền Bắc Việt Nam, điều mà các tổng thống khác của Hoa Kỳ chưa dám thực hiện.
Tuy nhiên, dù kế hoạch thâm hiểm, hiếu chiến của nhiều Tổng thống Hoa Kỳ, nhất là của Tổng thống R. Nixon - được hoạch định trên cơ sở tính toán kỹ bối cảnh chính trị trong và ngoài nước, nhưng cuối cùng đã thất bại ở chiến
trường Việt Nam.
Như vậy, nhìn từ phía bên kia của cuộc chiến, Hoa Kỳ cứ 4 năm thay đối chiến lược một lần hòng khuất phục nhân dân Việt Nam kháng chiến và tránh cho chế độ Sài Gòn khỏi sụp đổ. Trong chính sách nhiệm kỳ đó, từ năm thứ 3 đến trước mùa bầu cử mới, Hoa Kỳ đưa mức độ chiến tranh lên đỉnh điểm. Đó là “thời gian vàng” của những ông chủ Nhà Trắng, tung hết con bài trong tay ra nhằm đạt mục tiêu chiến tranh. Quy luật 4 năm đã phản ánh sự hạn chế của “cuộc chiến tranh không tuyên bố” của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Chu kỳ nhịp điệu chiến tranh cứ 4 năm thay đổi một lần bởi căn nguyên của cuộc chiến nhiệm kỳ. Chiến sự mà phía Hoa Kỳ phát động ở chiến trường miền Nam do đó mang tính bị động, giật cục, phụ thuộc vào nhịp thở chính trị trong nước.
Một câu hỏi đặt ra là vì sao các Tổng thống Hoa Kỳ dù đã sử dụng sức mạnh quân sự và kinh tế khổng lồ của mình, lại có bộ máy chiến tranh khổng lồ giúp sức, nhưng cuối cùng vẫn không tránh khỏi thất bại cay đắng ở Việt Nam?
Có nhiều lý do cắt nghĩa vấn đề này. Theo Mc. Namara, có 11 nguyên nhân dân đến thất bại của Hoa Kỳ ở Việt Nam[4]. Dù ý kiến của ông cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thời Tổng thống L. Johnson gắng nhìn đúng sự thật, tuy nhiên vẫn thiếu một lý do hệ trọng là sự tính toán của các chính khách Hoa Kỳ về chiến tranh xâm lược Việt Nam, dù rất hiểm độc, tàn bạo nhưng đã bị đối phương vượt lên đánh sập mọi toan tính của họ.
Khi cuộc chiến tranh ở Việt Nam càng quyết liệt thì Bộ thống soái tối cao của lực lượng cách mạng càng hiểu rõ đối phương toàn diện hơn. Một mặt, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thấy hết bản chất hiếu chiến của Nhà Trắng, Lầu Năm Góc. Mặt khác, cũng thấy rõ điểm yếu cơ bản của những kẻ thao túng chính trường Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Từ thông hiểu đối phương, các quyết sách được đưa ra trên cơ sở biết địch, biết mình và thường thấm nhuần hai điều cơ bản: một là tích cực kiềm chế địch trong mọi hoàn cảnh và hai là tiến công kẻ thù quyết liệt khi chính trưòng Hoa Kỳ buộc các nhà hoạch địch chính sách xâm lược Việt Nam ở Washington đang phải tự kiềm chế hoạt động quân sự ở chiến trường Việt Nam vào thời gian nhạy cảm chính trị.
Những quyết sách đầu tiên của Trung ương chủ trương đánh địch vào thời gian thích hợp nhất nhằm giành thắng lợi có lợi nhất cho cách mạng Việt Nam là nghị quyết các hội nghị Trung ương bàn về cách mạng miền Nam diễn ra trong năm 1965[5].
Vào cuối năm 1964 đầu năm 1965, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã bước vào thời kỳ mới. Sự thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” đã buộc Tổng thống Hoa Kỳ mở bưóc phiêu lưu quân sự mới: “Chiến tranh cục bộ”. Tuy nhiên, mùa bầu cử đang đến nên các chính khách Hoa Kỳ phải tự hạn chế hoạt động quân sự ở Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, tháng 3-1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 11 (Khóa III). Sau khi phân tích tình hình kháng chiến, tương quan giữa lực lượng kháng chiến và đối phương, Hội nghị đặt ra một nhiệm vụ chiến lược lâu dài cho toàn Đảng, toàn dân là dù trong bất cứ tình thế nào, nhân dân Việt Nam phải chiến thắng cho kỳ được cuộc “Chiến tranh đặc biệt” ở mức cao nhất ở miền Nam[6]. Mặt khác, nỗ lực giành thắng lợi quyết định ở miền Nam trong thời gian tương đối ngắn[7].
Theo tinh thần đó, vào thời khắc khi Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đang cố cầm chừng chiến sự ở chiến trường, thì lực lượng giải phóng lại dồn sức khuếch trương chiến quả. Vào cuối năm 1964 đầu năm 1965, Quân giải phóng đã mở một loạt chiến dịch Bình Giã, Ba Gia… Các sự kiện này diễn ra đúng lúc đối phương đang gặp khó khăn: loay hoay giữa thời gian hạn hẹp tranh thủ lá phiếu cử tri ở Hoa Kỳ nên hạn chế chiến sự ở chiến trường xa. Tuy nhiên, do tương quan so sánh lực lượng lúc đó, nên cách mạng miền Nam không dứt điểm được trong thời kỳ bản lề 1965[8].
Cuộc chiến bùng phát lên cao khi Hoa Kỳ thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Mùa khô thứ nhất và thứ hai, Hoa Kỳ đã đẩy cuộc chiến ở miền Nam lên cao độ, tuy nhiên mọi mục tiêu quân sự của Hoa Kỳ ở chiến trường miền Nam và đánh phá miền Bắc đều không đạt được. Vào mùa khô lần thứ ba, Hoa Kỳ đã huy động tất cả sức mạnh quân sự có thể huy động được vào chiến trường Đông Dương[9] và có nhiều yếu tố mấp mé chiến lược chiến tranh tổng lực.
Từ đầu năm 1968, khi các chính khách Hoa Kỳ bắt đầu tính toán mưu đồ xoa dịu dư luận Mỹ đang sục sôi vì Nhà Trắng theo đuổi cuộc chiến tranh tốn kém, phi nghĩa và không thể thắng ở Việt Nam, bằng sự kiềm chế chiến tranh ở mức độ nào đó cho cuộc vận động bầu cử cuối năm, thì Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã chủ trương tranh thủ hoàn cảnh đó để mở cuộc tổng tiến công mới. Ngay từ đầu năm 1967, Hội nghị lần thứ 13 của Trung ương Đảng (tháng 1-1967) đã nêu quyết tâm động viên, cố gắng cao độ, đập tan âm mưu của địch, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đốì ngắn[10].
Ý định chiến lược trên được chuẩn bị suốt năm 1967 và sau đó cuộc tổng tiến công và nổi dậy ở miền Nam năm 1968 diễn ra khi ở Mỹ hai đảng Dân chủ và Cộng hòa ở Hoa Kỳ đang tiến hành vận động tranh cử đại diện của mình vào Nhà Trắng. Cuộc tiến công và nổi dậy năm 1968 làm cho L. Johnson rất bất ngờ, bối rối và không thể hình dung được qui mô to lớn của nó.
Dù còn ý kiến tranh luận về kết quả của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, nhưng chính đòn tiến công này đã kết thúc nhiệm kỳ 4 năm tổng thống của L. Johnson trong thất bại cay đắng. Trên 60 vạn quân Mỹ và đồng minh cùng chục vạn quân Sài Gòn đã thất bại thảm hại trong “Chiến tranh cục bộ”.
Tuy nhiên, Hoa Kỳ chưa chịu rút quân khỏi miền Nam mà hơn nữa còn toan tính nước cờ thâm hiểm mới đối với lực lượng kháng chiến miền Nam. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” cùng với chính sách ngoại giao nước lớn, cùng với những tổn thất to lớn của Quân Giải phóng trong năm 1968, nên công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam gặp muôn vàn khó khăn. Tuy nhiên, đến năm 1972, lực lượng kháng chiến đã đủ điều kiện chủ quan và khách quan để tiến hành cuộc tiến công chiến lược mới[11].
Năm 1972, qua nhiệm kỳ thứ nhất, Tổng thống R. Nixon đã kiếm được số “vốn liếng” chính trị nhất định. Bởi về hình thức, đến thời điểm này, so với người tiền nhiệm, nếu L. Johnson đưa quân vào Việt Xam thì ngược lại, ông ta đã từng bước đưa quân Mỹ về nước. Tuy nhiên, chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của R. Nixon rất thâm độc và nó sẽ trở nên tàn khốc hơn sau khi ông ta tái đắc cử tổng thống nhiệm kỳ tiếp và thực tế đã diễn ra đúng như vậy.
Nhận thức được thời cơ nhạy cảm để đưa cách mạng miền Nam tiến lên, thực hiện chủ trương “đánh cho Mỹ cút”, tiến tới “đánh cho ngụy nhào”, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ ra cơ hội mới: Nixon rất ngoan cố, đang tranh ghế tống thống và sẽ tiếp tục thực hiện “học thuyết” của hắn sau bầu cử... ta phải biết nắm thời cơ, ta phải linh hoạt đấu tranh để góp phần đánh và thắng địch một cách có lợi nhất[12].
Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của lực lượng giải phóng diễn ra vào thời khắc Hoa Kỳ đang “gặt hái” chính sách “ngoại giao nước lớn” đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam và đúng vào thời gian đang vận động bầu cử tổng thống. Trong lúc này, R. Nixon đang ru ngủ cử tri Hoa Kỳ rằng hòa bình Việt Nam đã ở trong tầm tay, Hoa Kỳ đang giải quyết vấn đề Việt Nam trong danh dự, trong hòa bình[13].
Đòn tiến công quân sự đúng thời cơ của quân và dân Việt Nam năm 1972 cùng với thất bại của trận “Điện Biên Phủ trên không” đã buộc Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn ký Hiệp định Paris. Thắng lợi này đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam bước vào giai đoạn mới: từ giành thắng lợi quyết định lên thắng lợi hoàn toàn.
Dù có Hiệp định đình chiến, nhưng đối phương không chịu thi hành, không chịu chấm dứt chiến tranh ở miền Nam, không thực hiện hòa bình thống nhất đất nước. Trong thư gửi Trung ương Cục miền Nam, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn khẳng định: Điều quyết định trước hết là ta phải nhận rõ cách mạng miền Nam chỉ có thế giành được thắng lợi bằng con đường cách mạng không ngừng, bằng bạo lực[14].
Vào chặng đường “nước rút” cuối cùng của công cuộc chống Mỹ, cứu nước, khi chuẩn bị để cách mạng miền Nam tiến lên giành toàn thắng, có một câu hỏi đặt ra cho nhân dân Việt Nam là: nếu tiến lên vượt Hiệp định, thì Hoa Kỳ sẽ phản ứng như thế nào?
Qua gần 2 năm thử thách, vào cuối năm 1974, Bộ Chính trị đã có lời giải khá cụ thể. Sau cuộc họp (tháng 9 và 10-1974) bàn về nội dung trên, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn thay mặt Bộ Chính trị gửi thư Trung ương Cục miền Nam nhận xét: Tuy bản chất Mỹ rất ngoan cố và còn nhiều âm mưu thâm độc, nhưng đây lại là lúc Mỹ đang ra, mà đã ra thì việc quay lại không phải dễ… chọn thời cơ chiến lược này, ta phán đoán Mỹ không có khả năng quay lại... song dù Mỹ có can thiệp trở lại thì chúng cũng không xoay chuyển được tình thế, và ta vẫn thắng[15].
Với tính toán cả thế ta và địch, hiểu bối cảnh chung của chính trường Hoa Kỳ, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chuẩn bị mọi điều kiện tiến lên giải phóng miền Nam. Vào mùa Xuân 1975, khi điều kiện đã chín muồi, quân và dân Việt Nam đã tiến lên đánh đổ chế độ Sài Gòn, thu non sông về một mối.
Sự tính toán đầy mưu kế của các tổng thống Hoa Kỳ suốt nhiệm kỳ trong chiến tranh Việt Nam, rốt cuộc đã bị thất bại bởi cuộc chiến đấu kiên cường, đầy mưu trí và sáng tạo của nhân dân Việt Nam.


[1] Robert S.McNamara (1995), Nhìn lại quá khứ. Tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam, Nxb. CTQG, Hà Nội, tr.103.
[2] Giáo sư Larry Berman đã viết cuốn “Không hòa bình, chẳng danh dự” để vạch trần sự dối trá của R. Nixon.
[3] Vụ Watergate nổi tiếng buộc R. Nixon phải từ chức.
[4] Robert S. McNamara, sđd, tr.316-318.
[5] Có hai hội nghị, văn bản gọi Nghị quyết Trung ương 11 (tháng 3-1965) và 12 (tháng 12-1965).
[6] Đảng cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26 (1965), Nxb. CTQG, Hà Nội, tr.105, 109.
[7] Đảng cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26 (1965), Nxb. CTQG, Hà Nội, tr.105, 109.
[8] Ý của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn hay dùng để chỉ thắng lợi quyết định của cách mạng miền Nam trong thời gian này.
[9] Cuối năm 1967 đầu 1968, Hoa Kỳ đã huy động khoảng 70 vạn quân vào phục vụ chiến tranh Việt Nam (kể cả lực lượng đóng trúở căn cứ nước ngoài và trên biển), từ 1/2 đến 3/4 lực lượng không quân và hải quân.
[10] Đảng cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28 (1967), Nxb. CTQG, Hà Nội, tr.174.
[11] Năm 1970, Hoa Kỳ đưa chiến tranh trên bộ sang Campuchia, lực lượng kháng chiến ở đây cùng Quân giải phóng miền Nam đã đánh bại các chiến dịch của đối phương. Năm 1971, lực lượng vũ trang cách mạng đã giành được thắng lợi to lớn trong chiến dịch Đường 9-Nam Lào, xốc cách mạng miền Nam tiến lên.
[12] Lê Duẩn (1985), Thư vào Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr.317.
[13] Trên thực tế thì R. Nixon đang tính toán chiêu bài mới, nhưng vì đang mùa tranh cử phải tung lá bài là Hoa Kỳ đang hướng tới một hiệp định hòa bình.
[14] Lê Duẩn, sđd, tr.333-334, 62.
[15] Lê Duẩn, sđd, tr.333-334, 62.

nguồn: http://www.khoalichsu.edu.vn/bai-nghien-cu/597-cuc-chin-nhim-k-ca-cac-tng-thng-hoa-k--chin-trng-vit-nam-1954-1975.html
Được đăng bởi Letunglam.sgu vào lúc 14:22 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

12/6/14

5 THÓI QUEN DẪN ĐẾN TIỂU ĐƯỜNG

5 thói quen ăn uống gây bệnh tiểu đường

   Nhịp sống hối hả khiến chúng ta có xu hướng ăn thức ăn sẵn, đồ ngọt, xa rời các thực phẩm tự nhiên có lợi cho sức khỏe, trong đó có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Vậy những thói quen ấy là gì?   

1. Bỏ bữa sáng  “ Hãy ăn sáng như một ông vua, ăn trưa như một hoàng tử và ăn tối như một người ăn mày”  đã chỉ ra tầm quan trọng của bữa sáng. Tuy nhiên, không ít người đã đảo lộn thứ tự đó, kết quả là họ ăn quá nhiều vào buổi tối và thường ăn sáng qua quít với chỉ một cốc nước cam. Chính thói quen đã dẫn tới nguy cơ tiềm ẩn của bệnh béo phì và theo sau đó là tiểu đường vì mức insulin trong cơ thể bị rối loạn.  

2. Thích ăn đồ ngọt  Những món tráng miệng ngọt ngon, đẹp mắt nhưng lại là “thủ phạm” gây tăng cân. Các phân tử đường gắn với từng sợi protein trong mỗi tế bào. Tiếp đó, cơ thể sẽ chuyển hóa các phân tử đường, quá trình này được gọi là glycation. Glycation làm làn da mất đi vẻ đẹp rạng rỡ, đồng thời, lượng đường dư thừa còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.
Do vậy, để tránh bệnh tiểu đường, bạn cần biết về giới hạn sử dụng đường an toàn. Bạn nên hạn chế những món ăn nhiều đường vì nó có thể gây ra các rủi ro sức khỏe.  

3. Thích đồ ăn nhanh  
Nếu bạn thường xuyên ăn thực phẩm chứa nhiều dầu, mỡ như Pizza, bánh kếp hoặc gà rán, bạn sẽ phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2. Lý do bởi những thực phẩm này làm tăng axit béo và triglycerid. Các axit béo dư thừa trong máu và triglyceride ức chế hoạt động của insulin, dẫn đến lượng insulin trong máu vẫn bình thường hoặc hơi tăng nhưng lượng đường huyết lại ở trong tình trạng cao.  
Hãy hạn chế những món ngon có hại này và tìm đến những thực phẩm lành mạnh hơn như đồ ăn được chế biến với dầu ô liu, pho mát ít béo, đậu phụ... 

4. Uống nhiều rượu  Thói quen uống rượu gây hại nhiều hơn là có lợi cho cơ thể. Loại calo cơ thể tích trữ trong những cuộc nhậu nhẹt là không thực. Cơ thể ngay lập tức chuyển lượng calo thành chất béo dự trữ và trong khi bạn say sưa thưởng thức những món ăn trên bàn tiệc, ấy cũng là lúc bệnh tiểu đường đang chào bạn.  

5. Ăn uống thất thường  
Nếu bạn ăn ít nhất 3 bữa/ngày, ăn 6 bữa vào ngày kế, ngày tiếp theo không ăn gì và duy trì thói quen ăn uống “một mình một kiểu” như vậy trong thời gian dài, cơ thể sẽ bị rối loạn trao đổi chất. Đây là nguyên nhân dẫn tới lượng insulin thiếu ổn định, và tiền đề cho bệnh tiểu đường, rối loạn tiêu hóa...
Được đăng bởi Letunglam.sgu vào lúc 06:27 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Những triết lý "để đời"

Những triết lý "để đời" 

Trong vụ cướp nhà băng, một tên cướp hét lên:
"Tất cả đứng im, nên nhớ tiền thuộc về Nhà nước, còn mạng sống thuộc về chúng mày!"
Mọi người trong ngân hàng nghe xong liền im lặng nằm xuống.
-> Điều này được gọi là: "Cách thức khai tâm - Thay đổi những suy nghĩ theo lối mòn".

Có cô nhân viên nằm trên bàn trong tư thế khêu gợi, một tên cướp hét lên: "Làm ơn cư xử văn minh, chúng tôi là cướp chứ không phải những kẻ hiếp dâm!"
-> Điều này được gọi là "Hành xử chuyên nghiệp - Chỉ tập trung vào công việc mà bạn được huấn luyện!".

Khi tên cướp quay lại, một tên cướp trẻ hơn (có bằng MBA) nói với tên cướp già hơn (kẻ chỉ tốt nghiệp phổ thông):
"Đại ca, có phải đếm xem chúng ta cướp được bao nhiêu?".
Tên cướp già gằn giọng:
"Mày ngu lắm, bao nhiêu tiền, đếm thế nào được? Đợi đi, tối nay TV sẽ nói chúng ta cướp được bao nhiêu!"
-> Điều này được gọi là: "Kinh nghiệm - Kinh nghiệm quan trọng hơn giấy tờ, sách vở".

Sau khi băng cướp rời khỏi, giám đốc chi nhánh định gọi báo cảnh sát. Kế toán trưởng vội vã chạy đến, thì thầm vào tai ngài:
"Đợi đã, hãy để 5 triệu chúng ta biển thủ vào trong số bị băng cướp lấy mất!"
-> Điều này được gọi là: "Bơi theo dòng nước - Chuyển đổi những tình huống bất lợi trở thành thuận lợi".

Người giám đốc tự nhủ: "Vậy thật tuyệt nếu cứ mỗi tháng lại có một vụ cướp!"
-> Điều này được gọi là: "Hãy loại bỏ những điều khó chịu - Hạnh phúc là điều quan trọng nhất".

Ngay tối hôm ấy, TV đưa tin 100 triệu đã bị cướp khỏi nhà băng. Những tên cướp đếm đi đếm lại thì chỉ có 20 triệu. Chúng rất giận dữ: "Chúng ta mạo hiểm mạng sống của mình chỉ để lấy 20 triệu, bọn chúng chỉ ngồi chơi mà cướp được 80 triệu. Đúng là học hành, có bằng cấp thì chúng nó được ngồi cái ghế đấy, cướp tiền siêu đẳng hơn chúng ta!"
-> Điều này giải thích tại sao: "Kiến thức thì giá trị như vàng".

Bài học lớn được rút ra qua câu chuyện này, là trong cuộc sống luôn có những điều chúng ta có thể nhanh chóng nhìn ra, có những điều không như chúng ta thấy từ bên ngoài, và chân lý chỉ mang tính tương đối.
Quan trọng nhất là thái độ đối với cuộc sống này, hay cách nhìn chúng ta lựa chọn để mang lại vui vẻ, hạnh phúc cho bản thân, cho những người thân xung quanh mình".
Được đăng bởi Letunglam.sgu vào lúc 06:24 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Bài đăng mới hơn Bài đăng cũ hơn Trang chủ
Đăng ký: Bài đăng (Atom)

Hà Nội Tháng 7-2017

Hà Nội Tháng 7-2017
Hà Nội - Mùa Đông 1946 - Toàn quốc Kháng chiến

VỀ NGUỒN

VỀ NGUỒN
Dâng hương Chiến sĩ Rừng Sát-Cần Giờ

Thống kê

Bạn bè

Lưu trữ Blog

  • ▼  2022 (9)
    • ▼  tháng 12 (6)
      • ▼  thg 12 15 (6)
        • CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ VỚI NGA
        • Những thách thức đối với Liên minh châu Âu
        • LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
        • Chính sách ngăn chặn (Containment policy
        •  Tình hình nước Mỹ sau Thế chiến II Từ thế kỷ XIX...
        • SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”
    • ►  tháng 11 (3)
      • ►  thg 11 28 (2)
      • ►  thg 11 10 (1)
  • ►  2021 (9)
    • ►  tháng 10 (8)
      • ►  thg 10 18 (2)
      • ►  thg 10 15 (1)
      • ►  thg 10 09 (2)
      • ►  thg 10 05 (3)
    • ►  tháng 2 (1)
      • ►  thg 2 08 (1)
  • ►  2020 (11)
    • ►  tháng 11 (1)
      • ►  thg 11 25 (1)
    • ►  tháng 10 (2)
      • ►  thg 10 28 (2)
    • ►  tháng 9 (1)
      • ►  thg 9 05 (1)
    • ►  tháng 5 (4)
      • ►  thg 5 12 (1)
      • ►  thg 5 09 (1)
      • ►  thg 5 05 (1)
      • ►  thg 5 04 (1)
    • ►  tháng 4 (3)
      • ►  thg 4 21 (3)
  • ►  2019 (1)
    • ►  tháng 4 (1)
      • ►  thg 4 28 (1)
  • ►  2018 (4)
    • ►  tháng 10 (1)
      • ►  thg 10 26 (1)
    • ►  tháng 9 (1)
      • ►  thg 9 13 (1)
    • ►  tháng 3 (1)
      • ►  thg 3 31 (1)
    • ►  tháng 1 (1)
      • ►  thg 1 31 (1)
  • ►  2017 (19)
    • ►  tháng 12 (1)
      • ►  thg 12 08 (1)
    • ►  tháng 11 (3)
      • ►  thg 11 30 (2)
      • ►  thg 11 23 (1)
    • ►  tháng 9 (12)
      • ►  thg 9 11 (1)
      • ►  thg 9 10 (3)
      • ►  thg 9 02 (8)
    • ►  tháng 4 (2)
      • ►  thg 4 11 (2)
    • ►  tháng 1 (1)
      • ►  thg 1 24 (1)
  • ►  2016 (5)
    • ►  tháng 10 (1)
      • ►  thg 10 19 (1)
    • ►  tháng 9 (1)
      • ►  thg 9 30 (1)
    • ►  tháng 8 (1)
      • ►  thg 8 23 (1)
    • ►  tháng 4 (2)
      • ►  thg 4 04 (2)
  • ►  2015 (26)
    • ►  tháng 11 (4)
      • ►  thg 11 29 (1)
      • ►  thg 11 23 (2)
      • ►  thg 11 21 (1)
    • ►  tháng 10 (3)
      • ►  thg 10 28 (1)
      • ►  thg 10 09 (1)
      • ►  thg 10 07 (1)
    • ►  tháng 9 (12)
      • ►  thg 9 22 (1)
      • ►  thg 9 17 (6)
      • ►  thg 9 15 (2)
      • ►  thg 9 03 (1)
      • ►  thg 9 01 (2)
    • ►  tháng 8 (3)
      • ►  thg 8 30 (1)
      • ►  thg 8 03 (2)
    • ►  tháng 7 (2)
      • ►  thg 7 19 (2)
    • ►  tháng 3 (2)
      • ►  thg 3 31 (2)
  • ►  2014 (16)
    • ►  tháng 12 (1)
      • ►  thg 12 05 (1)
    • ►  tháng 11 (4)
      • ►  thg 11 24 (2)
      • ►  thg 11 04 (2)
    • ►  tháng 10 (4)
      • ►  thg 10 28 (4)
    • ►  tháng 6 (2)
      • ►  thg 6 12 (2)
    • ►  tháng 4 (5)
      • ►  thg 4 01 (5)
  • ►  2013 (11)
    • ►  tháng 11 (1)
      • ►  thg 11 11 (1)
    • ►  tháng 7 (1)
      • ►  thg 7 14 (1)
    • ►  tháng 6 (2)
      • ►  thg 6 28 (2)
    • ►  tháng 4 (1)
      • ►  thg 4 10 (1)
    • ►  tháng 2 (5)
      • ►  thg 2 11 (1)
      • ►  thg 2 08 (4)
    • ►  tháng 1 (1)
      • ►  thg 1 02 (1)
  • ►  2012 (62)
    • ►  tháng 11 (2)
      • ►  thg 11 15 (2)
    • ►  tháng 10 (1)
      • ►  thg 10 16 (1)
    • ►  tháng 8 (8)
      • ►  thg 8 17 (1)
      • ►  thg 8 10 (2)
      • ►  thg 8 02 (2)
      • ►  thg 8 01 (3)
    • ►  tháng 7 (5)
      • ►  thg 7 21 (1)
      • ►  thg 7 18 (1)
      • ►  thg 7 09 (3)
    • ►  tháng 6 (2)
      • ►  thg 6 19 (1)
      • ►  thg 6 02 (1)
    • ►  tháng 5 (9)
      • ►  thg 5 29 (5)
      • ►  thg 5 16 (1)
      • ►  thg 5 10 (1)
      • ►  thg 5 02 (2)
    • ►  tháng 4 (17)
      • ►  thg 4 30 (1)
      • ►  thg 4 22 (1)
      • ►  thg 4 21 (1)
      • ►  thg 4 19 (1)
      • ►  thg 4 17 (1)
      • ►  thg 4 13 (2)
      • ►  thg 4 11 (2)
      • ►  thg 4 10 (1)
      • ►  thg 4 09 (1)
      • ►  thg 4 06 (1)
      • ►  thg 4 04 (4)
      • ►  thg 4 01 (1)
    • ►  tháng 3 (18)
      • ►  thg 3 31 (2)
      • ►  thg 3 29 (1)
      • ►  thg 3 28 (6)
      • ►  thg 3 25 (2)
      • ►  thg 3 24 (3)
      • ►  thg 3 22 (4)

Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Letunglam.sgu
Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi

Khảo cứu thực địa

Khảo cứu thực địa
Chùa Vàm Ray - Trà Vinh

Quà tặng của Thầy!

Quà tặng của Thầy!

Huế - 2012

Huế - 2012
Cầu Tràng Tiền

Popular Posts

  • SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”
      SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”     Khái quát tình hình thế giới sau chiến tranh ...
  • PHƯƠNG PHÁP TƯỜNG THUẬT LỊCH SỬ
    Phương pháp tường thuật Khái niệm - Tường thuật là một cách trình bày miệng quan trọng, nhằm tái hiện ở học sinh biến cố lịch sử quan t...
  • Chính sách Lương thực của Nhật Bản
    VẤN ĐỀ LƯƠNG THỰC TRONG CHÍNH SÁCH CỦA NHẬT BẢN Ở NAM KÌ (1940 – 1945)                                                              ...
  • SỰ TIẾP XÚC VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI
    Th.S Lê Tùng Lâm [1] SỰ TIẾP XÚC GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI Thời kì cận đại của lịch sử thế giới bắt đầu từ sự thắng lợi c...
  • SỰ HÌNH THÀNH BA LÒ LỬA CHIẾN TRANH TRÊN THẾ GIỚI
    Sự hình thành 3 lò lửa chiến tranh trên thế giới. a) Lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông     Nhật Bản là nước đầu tiên có tham vọng phá v...
  • THỜI BẮC THUỘC VÀ CÁC CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC
    Bài 15 THỜI BẮC THUỘC VÀ CÁC CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC (Từ thế kỉ II TCN đến đầu TK X). 1. Chế độ cai trị. Về chính trị...
  • VĂN HÓA YAYOI
    Văn hóa Yayoi  (từ thế kỷ III TCN đến thế kỷ III SCN) và đặc điểm của nó. - Vào khoảng thế kỷ thứ II trước công nguyên ở miền Bắc đảo Kyu...
  • Ứng dụng CNTT vào dạy học Lịch sử
  • 250 CÂU ÔN THI LSTG 1945-2000
    Câu 1.        Trình bày những tiền đề dẫn tới cách mạng bùng nổ và thắng lợi ở Nga năm 1917. Câu 2.        Cách mạng t...
  • Bài 3 chương 2_Hướng dẫn thực hiện đề tài Nghiên cứu khoa học

Tìm kiếm

BÀI ĐĂNG

  • SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”
      SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”     Khái quát tình hình thế giới sau chiến tranh ...
  • PHƯƠNG PHÁP TƯỜNG THUẬT LỊCH SỬ
    Phương pháp tường thuật Khái niệm - Tường thuật là một cách trình bày miệng quan trọng, nhằm tái hiện ở học sinh biến cố lịch sử quan t...
  • Chính sách Lương thực của Nhật Bản
    VẤN ĐỀ LƯƠNG THỰC TRONG CHÍNH SÁCH CỦA NHẬT BẢN Ở NAM KÌ (1940 – 1945)                                                              ...
  • SỰ TIẾP XÚC VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI
    Th.S Lê Tùng Lâm [1] SỰ TIẾP XÚC GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI Thời kì cận đại của lịch sử thế giới bắt đầu từ sự thắng lợi c...
  • SỰ HÌNH THÀNH BA LÒ LỬA CHIẾN TRANH TRÊN THẾ GIỚI
    Sự hình thành 3 lò lửa chiến tranh trên thế giới. a) Lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông     Nhật Bản là nước đầu tiên có tham vọng phá v...
  • THỜI BẮC THUỘC VÀ CÁC CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC
    Bài 15 THỜI BẮC THUỘC VÀ CÁC CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC (Từ thế kỉ II TCN đến đầu TK X). 1. Chế độ cai trị. Về chính trị...
  • VĂN HÓA YAYOI
    Văn hóa Yayoi  (từ thế kỷ III TCN đến thế kỷ III SCN) và đặc điểm của nó. - Vào khoảng thế kỷ thứ II trước công nguyên ở miền Bắc đảo Kyu...
  • Ứng dụng CNTT vào dạy học Lịch sử
  • 250 CÂU ÔN THI LSTG 1945-2000
    Câu 1.        Trình bày những tiền đề dẫn tới cách mạng bùng nổ và thắng lợi ở Nga năm 1917. Câu 2.        Cách mạng t...
  • Bài 3 chương 2_Hướng dẫn thực hiện đề tài Nghiên cứu khoa học

Ảnh

Ảnh
cá nhân

Popular Posts

  • 250 CÂU ÔN THI LSTG 1945-2000
    Câu 1.        Trình bày những tiền đề dẫn tới cách mạng bùng nổ và thắng lợi ở Nga năm 1917. Câu 2.        Cách mạng t...
  • SỰ HÌNH THÀNH BA LÒ LỬA CHIẾN TRANH TRÊN THẾ GIỚI
    Sự hình thành 3 lò lửa chiến tranh trên thế giới. a) Lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông     Nhật Bản là nước đầu tiên có tham vọng phá v...
  • SỰ TIẾP XÚC VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI
    Th.S Lê Tùng Lâm [1] SỰ TIẾP XÚC GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH THỜI CẬN ĐẠI Thời kì cận đại của lịch sử thế giới bắt đầu từ sự thắng lợi c...
  • HỘI NGHỊ HOÀ BÌNH VERSAILLÈS
    Hội nghị hoà bình Versaillès (1919-1920) H òa ước Versaill è s năm 1919 là hòa ước chính thức chấm dứt cuộc Chiến tranh thế giới lần...
  • Chính sách Lương thực của Nhật Bản
    VẤN ĐỀ LƯƠNG THỰC TRONG CHÍNH SÁCH CỦA NHẬT BẢN Ở NAM KÌ (1940 – 1945)                                                              ...
  • PHƯƠNG PHÁP TƯỜNG THUẬT LỊCH SỬ
    Phương pháp tường thuật Khái niệm - Tường thuật là một cách trình bày miệng quan trọng, nhằm tái hiện ở học sinh biến cố lịch sử quan t...
  • CÂU HỎI ÔN TẬP SỬ 12
    CÂU HỎI ÔN THI TỐT NGHIỆP THPT MÔN: LỊCH SỬ 12 Câu 1.              Trình bày nội dung cơ bản của Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắ...
  • SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”
      SỰ HÌNH THÀNH “TRẬT TỰ HAI CỰC YALTA”     Khái quát tình hình thế giới sau chiến tranh ...
  • HÃY ĐỌC KỸ VÀ SUY NGẪM NHÉ.
    Một nhà thông thái ngồi giữa đám đông và kể một câu chuyện cười.   Mọi người phá lên cười. Một lúc sau, Ông kể đi kể lại câu chuyện đó. ...
  • NHẬT BẢN THỜI TRUNG ĐẠI
    Chương II NHẬT BẢN THỜI TRUNG ĐẠI Kamakura Bakufu (1185 - 1333). 1. Quá trình xác lập sự thống trị của Kamakura Bakufu. - Từ giữa...

Danh sách Blog của Tôi

  • CON HỒNG CHÁU LẠC
    CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ VỚI NGA
    3 năm trước

Trang web liên kết

  • Học viên Khoa học Xã hội
  • Đại học sài Gòn
  • http://letunglamdhsg.blogspot.com
Powered By Blogger
Chủ đề Cửa sổ hình ảnh. Được tạo bởi Blogger.