3/8/15

Liệu Mỹ đã biết trước nhưng lừa Nhật tấn công Trân Châu Cảng?

Liệu Mỹ đã biết trước nhưng lừa Nhật tấn công Trân Châu Cảng?

Liệu Mỹ đã biết trước nhưng lừa Nhật tấn công Trân Châu Cảng?
1. Cuộc tấn công không báo trước
Ngày 7/12/1941, Nhật Bản bất ngờ tấn công hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ tại Trân Châu Cảng,
Trong vòng vài giờ, quân Nhật cũng đánh Philippines, Wake Island, Guam cùng các mục tiêu khác ở Thái Bình Dương. Các căn cứ của Mỹ ở nơi nào cũng bị bất ngờ.
Điều kì lạ là các căn cứ quân sự Mỹ không hề được cảnh báo về một cuộc tấn công quy mô lớn của Nhật.
Vì thế khi quân Nhật tấn công, quân đội Mỹ đã hoàn toàn bị bất ngờ, toàn bộ các chiến hạm của Mỹ đều bị đánh chìm hoặc bị hư hỏng nặng, 2400 lính Mỹ thiệt mạng.
chiến hạm USS West Virginia bị đánh chìm
Chiến hạm USS West Virginia bị đánh chìm.
Một ủy ban của quốc hội Mỹ đã tiến hành điều trần sâu rộng về thảm họa Trân Châu Cảng sau khi chiến tranh kết thúc.
Trong số những kết luận được đưa ra có kết luận rằng lực lượng Mỹ đã tập trung quá nhiều vào huấn luyện đến nỗi họ bị “mù” trước một cuộc tấn công có thể xảy ra.
Các chỉ huy quân đội Mỹ đã quá lo lắng về sự phá hoại đến nỗi họ “khóa” hết các kho đạn dược chống máy bay, thay vì phân phát nó cho các điểm bắn. Hải quân không duy trì các cuộc tuần tra bằng máy bay trên biển do thiếu thiết bị.
Ngoài ra, hai nhà sử học Jonathan Parshall và J. Michael Wenger cho biết trên tạp chí Lịch sử Hải quân lý do Mỹ bị bất ngờ là các chỉ huy không hiểu được một cuộc chiến với sự tham gia của tàu sân bay phát triển nhanh tới mức nào.
2. Liệu đây có phải khổ nhục kế của Roosevelt
Tuy nhiên, càng điều tra người ta càng phát hiện ra những điều bí ẩn và khó giải thích. Nhiều người cho rằng đây chính là một khổ nhục kế của Chính phủ Mỹ.
Dù chính phủ Mỹ gọi đây là '' cuộc tấn công bất ngờ '' của Nhật Bản, nhưng giới chức lại cho rằng Tổng thống Roosevelt biết trước về cuộc tấn công này.
Tuy nhiên ông đã chọn cách “im lặng” vì ông tin rằng cú sốc của cuộc tấn công sẽ thuyết phục người Mỹ về sự cần thiết can dự vào cuộc chiến.
Quả nhiên, chỉ một ngày sau vụ tấn công ở Trân Châu Cảng, được sự chấp thuận của Quốc hội Mỹ, Tổng thống Roosevelt tuyên chiến với Nhật Bản, chính thức đưa nước Mỹ tham gia vào Thế chiến thứ 2.
Điều đó càng có sức thuyết phục hơn khi người ta đặt câu hỏi tại sao radar của quân Mỹ không thể phát hiện nổi 6 tàu chiến của Nhật chở theo 400 chiếc máy bay đậu cách mục tiêu 350km?
Tối 6/12/1941, ngay trước ngày Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, tại Nhà Trắng, Tổng thống Roosevelt triệu tập một cuộc họp hiếm có mà thành phần tham dự là những cố vấn chiến tranh cao cấp.
Bao gồm trong đó có Đô đốc hải quân Mỹ Knox, Tư lệnh Tác chiến hải quân Stark, Bộ trưởng Chiến tranh Stimson và Cố vấn Tình báo Harry Hopkins.
Không khí trong phòng Bầu dục hết sức nặng nề. Dường như họ đang chờ đợi những gì sắp xảy ra với hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ tại Trân Châu Cảng?
USS Pennsylvania, phía sau xác tàu đắm của những tàu khu trục USS Downes và USS Cassin
USS Pennsylvania, phía sau xác tàu đắm của những tàu khu trục USS Downes và USS Cassin
Theo cơ quan giải mã MAGIC của Mỹ, năm 1941, trung bình mỗi tuần, MAGIC thu và giải 200 bản mật mã, trong đó có nhiều thông tin liên quan đến Trân Châu Cảng. Ví dụ, ngày 24/9/1941, hải quân Nhật gửi điện mật đến Lãnh sự quán Nhật tại Mỹ yêu cầu tìm hiểu vị trí neo đậu của các quân hạm Mỹ tại Trân Châu Cảng. 
Hay ngày 18/11/1941, Lãnh sự quán Nhật đánh điện mật thông báo cho quân đội Nhật biết về thời gian cũng như góc độ thay đổi phương hướng của những quân hạm Mỹ sau khi tiến vào Trân Châu Cảng…
Có thể thấy thông qua những hoạt động giải mã của MAGIC, chính phủ Mỹ Chính phủ Mỹ đã gần như nắm được toàn bộ ý định của Nhật nhằm vào Trân Châu Cảng. Thế nhưng chính quyền Mỹ lại không hề thông báo cho Đô đốc Hạm đội Thái Bình Dương E.Kimmel và Tư lệnh Căn cứ Hawaii - Trung tướng lục quân Walter Short, về việc quân hạm Thái Bình Dương sắp bị Nhật Bản tấn công.
3. Những hoạt động đáng ngờ.
Trước ngày Trân Châu Cảng bị tấn công, các hoạt động tăng cường và rút lui các tàu chiến tại hạm đội Thái Bình Dương đặt ra nhiều nghi vấn.
Đầu năm 1941, ¼ lực lượng tác chiến của hạm đội Thái Bình Dương gồm một tàu hàng không mẫu hạm, ba chiến hạm chủ lực, 4 tàu tuần dương, 17 tàu bảo vệ được điều động sang hạm đội khác. Ngoài ra, hải quân Mỹ cũng điều những sĩ quan giỏi nhất trong hạm đội ở Trân Châu Cảng và đội thủy binh đến hạm đội khác.
Thêm nữa, dù Đô đốc Kimmel từng nhiều lần trình bày với Tư lệnh tác chiến hải quân Stark về tầm quan trọng của việc tăng cường sức mạnh cho hạm đội Thái Bình Dương, song Chính phủ Mỹ không hề lưu tâm.
Trong thư gửi Tư lệnh Stark ngày 22/9/1941, Đô đốc Kimmel viết: “Một hạm đội Thái Bình Dương mạnh sẽ là một sự đe doạ với người Nhật, còn một hạm đội yếu, mỏng sẽ thu hút sự chú ý của Nhật. Trước khi chúng ta có đủ thực lực để chống lại Nhật, chúng ta sẽ thất thủ ở Trân Châu Cảng”.
4. Tại sao phải dùng khổ nhục kế?
Theo nhà sử học Charles Beard, chính thái độ không quan tâm đến cuộc chiến của người dân Mỹ đã thúc đẩy ông Roosevelt dùng khổ nhục kế cho quân Mỹ.
Tổng thống Roosevelt quyết định phải đưa nước Mỹ vào cuộc chiến trước khi các nước phát xít chinh phục toàn châu Âu và Á. Do vậy, Tổng thống dùng đến “khổ nhục kế” này. 
Đó là lí do vì sao ông Roosevelt điều ba mẫu hạm chủ lực ra khỏi Trân Châu Cảng để làm giảm tổn thất cho quân Mỹ
Tuy nhiên, nếu dùng khổ nhục kế này tại sao Roosevelt không rút quân số xuống mức 1500 người, điều mà nhiều người Mỹ thắc mắc, và cộng với việc thiếu chứng cứ xác thực nên đến nay, có hay không '' khổ nhục kế '' của người Mỹ vẫn là một bí ẩn.

Jean Lacouture - cây bút đại thụ luôn sát cánh với Việt Nam.

Jean Lacouture - cây bút đại thụ luôn sát cánh với Việt Nam

Nhà báo, nhà văn, nhà viết tiểu sử Jean Lacouture trong phòng làm việc của mình thời trẻ. (Nguồn: Báo Le Monde)

Truyền thông Pháp ngày 17/7 đã đồng loạt đưa tin và có bài viết bày tỏ sự kính trọng, niềm thương tiếc trước sự ra đi của một nhà báo-nhà viết tiểu sử nổi tiếng Jean Lacouture.

Tổng thống Pháp François Hollande gọi Jean Lacouture là "chiến sỹ đấu tranh không mệt mỏi cho tiến trình phi thực dân hóa," "một nhà báo độc lập, can đảm và đam mê, đã viết lại lịch sử Pháp đúng như những gì đã diễn ra."

Còn Thủ tướng Pháp Manuel Valls thì viết trên trang Twitter của mình: "Là nhà văn lớn, ông có cuộc đời phong phú giống như cuộc đời của các nhân vật mà ông đã viết tiểu sử. Tư tưởng của ông sẽ còn mãi với những người theo cánh tả và nước Pháp."

Jean Lacouture - cây bút đại thụ của làng báo chí Pháp, người luôn ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam và có sự ngưỡng mộ sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh - đã qua đời ngày 16/7 ở tuổi 94 tại quê hương ông - làng Roussillon, tỉnh Vaucluse, vùng Đông Nam nước Pháp. 

Nhà báo nổi tiếng đã để lại một di sản vô cùng phong phú với hàng nghìn bài báo và 71 cuốn sách viết về tiểu sử của nhiều nhân vật chính trị nổi tiếng của Pháp và thế giới trong thế kỷ 20 trong đó có Tướng Charles de Gaulle, Tổng thống Pháp François Mitterrand, Chủ tịch Hồ Chí Minh…

Sinh ngày 9/6/1921 tại Bordeaux, Jean Lacouture tốt nghiệp trường Khoa học Chính trị Paris, trở thành tùy viên báo chí của Tướng Leclerc vào cuối Thế chiến II. 

Sau chiến tranh, ông cộng tác với các báo Combat, France-Soir, Nouvel Observateur. Jean Lacouture có sức làm việc ấn tượng cộng với khả năng tổng hợp tài tình khiến báo giới phải nể phục.

Trong gần 20 năm, từ 1957-1975, ông làm việc tại báo Le Monde. Jean Lacouture từng giữ chức vụ Trưởng ban Hải ngoại và được tặng danh hiệu Nhà báo lớn (Grand reporter) - danh hiệu mà báo chí Pháp dành cho những ngòi bút sắc sảo, có bản lĩnh. 

Trong những năm 1950, ông theo dõi và đưa tin về các cuộc khủng hoảng tại Tunisia và Maroc, về cuộc chiến tranh của Pháp tại Đông Dương. Chính công việc này cùng với các lần gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp hình thành trong ông quan điểm phản đối các chính sách thực dân và các cuộc chiến tranh tại các nước thuộc địa. 

Jean Lacouture đến Đông Dương lần đầu vào năm 1946, trở lại vào đầu những năm 1950 và sau đó còn quay lại nhiều lần.

Qua các bài báo, ông thể hiện quan điểm cánh tả tiến bộ của mình. Ông cũng không giấu giếm sự ngưỡng mộ của mình đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự ủng hộ dành cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Cuốn sách "Việt Nam giữa hai nền hòa bình" được nhà xuất bản Le Seuil ấn hành năm 1965 tập hợp nhiều bài báo, phần lớn được in trên báo Le Monde từ năm 1959 đến năm 1965, trong đó, ông đã chỉ rõ những cơ hội hòa bình bị đánh mất vào năm 1946 khi các thế lực hiếu chiến ở Pháp quyết tâm tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một lần nữa.

Ông cũng nêu bật việc Mỹ thế chân Pháp tại miền Nam Việt Nam với suy nghĩ rằng Mỹ sẽ làm tốt hơn Pháp trong việc "ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản," nhưng đã phạm phải sai lầm khi dựng lên chế độ Ngô Đình Diệm và sa lầy vào một cuộc chiến tranh không nhìn thấy hồi kết. 

Jean Lacouture cũng là tác giả của cuốn "Hồ Chí Minh" được Nhà xuất bản Le Seuil ấn hành năm 1967 và được tái bản năm 1976. Ngoài ra, ông cũng viết nhiều cuốn sách khác về Việt Nam chủ yếu về thời kỳ chống Mỹ cho đến khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975. 

Ngày 5/9/1969, ba ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Jean Lacouture đã có bài viết chiếm nhiều cột trên trang nhất và các trang tiếp theo của báo Le Monde về vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam với nhan đề: "Nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng."

Bài báo đã điểm lại những mốc chính và bước ngoặt trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tuổi thơ ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, quê hương cách mạng, cho đến ngày bước chân lên con tàu buôn Latouche-Tréville làm phụ bếp, ra đi tìm đường cứu nước, những đêm người thanh niên yêu nước trằn trọc mất ngủ viết "Bản án chế độ thực dân Pháp" và chặng đường cách mạng tiếp theo với bao gian nan thử thách. 

Bài báo cũng cho biết trong mọi hoàn cảnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo, nhưng không bao giờ từ bỏ nguyên tắc và xa rời mục tiêu là đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho nhân dân Việt Nam, hòa bình cho đất nước Việt Nam. 

Trong tháng Ba vừa qua, báo Le Monde cũng đã xuất bản cuốn sách "Hồ Chí Minh, nhân vật giành lại độc lập cho Việt Nam." Ðây là tập số 11 trong bộ sách lịch sử gồm 20 tập mang tên "Những người làm thay đổi thế giới."

Cuốn sách đã tập hợp nhiều bài báo được in trên báo Le Monde của nhiều tác giả viết về vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các giai đoạn lịch sử khác nhau của Việt Nam trong đó có nhiều bài viết của tác giả Jean Lacouture.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, những bài viết của Jean Lacouture được đăng trên báo Le Monde, tờ báo có uy tín nhất tại Pháp đã tác động đến một bộ phận chính giới và người dân Pháp về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ. 

Các bài báo của ông cũng là nguồn cổ vũ động viên cho kiều bào và sinh viên Việt Nam, giúp cộng đồng người Việt Nam tại Pháp thêm tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc.

Năm 2013, Jean Lacouture đã được tặng thưởng Huân chương Bắc đẩu Bội tinh vì những đóng góp vào tiến trình phi thực dân hóa những năm sau Thế chiến II và hơn 70 tác phẩm để lại cho lịch sử. Trước đó, năm 2003, ông cũng được nhận Giải thưởng lớn về Lịch sử của Viện Hàn lâm Pháp../. 
ngồn: http://www.vietnamplus.vn/jean-lacouture-cay-but-dai-thu-luon-sat-canh-voi-viet-nam/333335.vnp.

19/7/15

TOÀ ÁN QUỐC TẾ BƠTƠRAN RAXƠN XÉT XỬ TỘI ÁC ĐẾ QUỐC MĨ:

TOÀ ÁN QUỐC TẾ BƠTƠRAN RAXƠN XÉT XỬ TỘI ÁC ĐẾ QUỐC MĨ:
đế quốc Mĩ ngày càng mở rộng chiến tranh đánh phá ác liệt toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam, gây nhiều tội ác man rợ. Ngày 15.11.1966, theo sáng kiến của nhà triết học người Anh Bơtơran Raxơn (Bertrand Russell; 1872 - 1970), toà án quốc tế xét xử tội ác của đế quốc Mĩ được thành lập tại Luân Đôn. Toà án Quốc tế Bơtơran Raxơn đã cử 4 đoàn tới điều tra trực tiếp ở Việt Nam, thu thập tài liệu, nhân chứng, sau đó đã họp hai phiên để xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mĩ. Phiên họp thứ nhất tại Xtôckhôm, Thuỵ Điển từ ngày 2 đến 15.5.1967. Toà kết luận: Chính phủ Mĩ đã phạm tội ác xâm lược chống nước Việt Nam, các Chính phủ Ôxtrâylia, Niu Zilân, Hàn Quốc là đồng loã. Phiên họp thứ hai tại Côpenhaghen, Đan Mạch, từ ngày 20.11 đến 1.12.1967. Toà kết luận: Mĩ đã dùng các loại vũ khí man rợ nhất để tàn sát trẻ em, phụ nữ và dân thường Việt Nam. Đồng thời, Mĩ đã tiến hành xâm lược Lào và có dã tâm xâm lược Cămpuchia. Đây là lần đầu tiên cuộc chiến tranh xâm lược cũng như tội ác mà đế quốc Mĩ gây ra ở Việt Nam đã bị toà án quốc tế bao gồm một tập thể đông đảo các luật gia, sử gia, các nhà bác học, nhà báo có tiếng thuộc nhiều nước, kể cả nước Mĩ lên án một cách toàn diện có hệ thống, có sức thuyết phục đối với dư luận toàn thế giới. "Sự lên án đó có tầm quan trọng quốc tế về mặt bảo vệ công lí và quyền tự quyết của các dân tộc" (Hồ Chí Minh)[1].



[1] Nguồn: http://daitudien.net/chinh-tri-hoc/chinh-tri-hoc-ve-toa-an-quoc-te-botoran-raxon-xet-xu-toi-ac-de-quoc-mi.html.

SÁCH LƯỢC LÀ GÌ?

Sách lược là những biện pháp, cách thức cụ thể được thực hiện trong một giai đoạn nhất định nhằm thực hiện thành công một chính sách nào đó. Trong quân sự, sách lược là những hành động cụ thể như viện trợ quân sự, sử dụng lực lượng quân đội, vũ khí...để thực hiện thành công một chính sách quân sự cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chiến lược lâu dài. Chiến lược mang tính mềm dẻo, dễ dàng thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

31/3/15

NỘI DUNG ÔN THI HỌC KÌ II Môn: LỊCH SỬ 11 Năm học 2014 – 2015

NỘI DUNG ÔN THI HỌC KÌ II
Môn: LỊCH SỬ 11
Năm học 2014 – 2015

Câu 1. Con đường dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)
1. Các nước phát xít đẩy mạnh xâm lược 1931 – 1937.
Từ những năm 30, Các nước phát xít Đức, Italia, Nhật liên kết thành phe Trục nhằm chống Liên Xô và đẩy mạnh xâm lược như: Đức thôn tính Tiệp Khắc, Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, Italia can thiệp vào Bắc Phi.
Thái độ của các nước đối với phát xít:
- Liên Xô muốn liên kết với Anh, Pháp để cùng chống PX nhưng bị từ chối.
- A, P muốn “mượn tay” PX tiêu diệt LX nên dung dưỡng, thỏa hiệp với PX.
- Mĩ thực hiện “đạo luật trung lập”, không can thiệp ngoài châu Mĩ
2. Từ hội nghị Muy-nich đến chiến tranh thế giới.
- Năm 1938, Hit-le (Hiller) gây ra vụ Xuy-đet để thôn tính Tiệp Khắc.
- Ngày 29-9-1938, Hiệp ước Muy-nich được ký kết, A,P trao Xuy-đet cho Đức, đổi lại, Đức hứa tấn công LX -> Đỉnh cao sự nhân nhượng, thoả hiệp của A, P đối với PX.
 - Ngày 23-8-1939, Xô – Đức ký bản Hiệp ước Xô – Đức không xâm phạm lẫn nhau.
- Ngày 01-9-1939, Đức tấn công Ba Lan.
- Ngày 03-9-1939, A, P tuyên chiến với Đức.
=> Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.
Câu 2. Sự thất bại của phát xít Đức và quân phiệt Nhật Bản
Phát xít Đức đầu hàng
- Tháng 6-1944, LX được giải phóng. Hồng Quân LX giải phóng các nước Đông Âu.
-  Ngày 6-6-1944, Anh, Mĩ mở mặt trận thứ hai ở Tây Âu, giải phóng Pháp và một số nước Tây Âu, chuẩn bị tấng công Đức.
- Tháng 1-1945, Liên Xô tấn công Đức từ phía Đông.
- Tháng 2.1945, các nước đồng minh tấn công Đức từ phía Tây.
- Ngày 30.04.1945, LX chiếm tòa nhà Quốc hội Đức, Hit-le tự sát.
- Ngày 9.5.1945, Đức đầu hàng không đều kiện, chiến tranh kết thúc ở Châu Âu.
Chủ nghĩa quân phiệt Nhật đầu hàng
- Đầu năm 1945, liên quân Anh – Mỹ tấn công Nhật ở châu Á.
- Từ ngày 9 – 14.8.1945, Hồng Quân Liên Xô tiêu diệt 1 triệu quân Quan Đông của Nhật ở Trung Quốc.
- Ngày 6 & 9. 8 1945, Mĩ ném bom nguyên tử xuống Hirosima và Nagasaki.
- Ngày 15.8.1945, Nhật đầu hàng vô điều kiện.
=> Chiến tranh thế giới thứ hai kêt thúc.
Câu 3. Kết cục chiến tranh thế giới thứ hai
- CNPX bị tiêu diệt tận gốc, thắng lợi thuộc về phe các nước đồng minh. LX, Mĩ, Anh giữ vai trò quyết định đánh bại phát xít.
- Chiến tranh gây ra hậu quả nặng nề: 70 nước tham gia; 60 tr người chết, 90tr người bị thương, nhiều thành phố, làng mạc bị thiêu hủy, thiệt hại gấp 10 lần chiến tranh thế giới thứ I.
-Tính chất: lúc đầu là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa để phân chia thuộc địa. Từ năm 1941, Đức tấn công Liên Xô, chiến tranh trở thành chính nghĩa của toàn nhân loại chống phát xít, chống chiến tranh vì hòa bình, an ninh thế giới.

Câu 4. Chiến sự ở Đà Nẵng năm 1858
Nguyên nhân: Lấy cớ bảo vệ đạo Gia Tô, ngày 31-8-1858 liên quân Pháp – Tây Ban Nha dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng. Pháp muốn chiếm Đà Nẵng rồi sẽ tiến thẳng ra Huế, buộc nhà Nguyễn đầu hàng, kết thúc chiến tranh.
Diễn biến:
- Ngày 1-9-1958, Pháp giởi tối hậu thư buộc ta giao thành. Không đợi trả lời, Pháp tấn công Sơn Trà (Đà Nẵng), chính thưc xâm lược Việt Nam.
- Nhân dận ta dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Tri Phương, thực hiện “vườn không nhà trống” đánh bại nhiều cuộc tấn công của Pháp.
Kết quả: làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Pháp.
Câu 5. Chiến sự ở Gia Định
- Sau thất bại ở Đà Nẵng, Pháp đem quân vào Gia Định vì đây là vùng đất màu mỡ, vị trí địa lý thuận lợi và là kho lương thực của nhà Nguyễn.
- Ngày 17-2-1859, Pháp tấn công thành Gia Định, quân triều đình thất bại nhanh chóng.
- Nhân dân Gia Định chiến đấu anh dũng, thực hiện lối đánh du kích, gây khó khăn cho Pháp, buộc Pháp chuyển sang kế hoạch “chinh phục từng gói nhỏ”.
- Từ 1860, Pháp phải bị động nhưng Nhà Nguyễn cử Nguyễn Tri Phương vào Gia Định đã không chủ động chống Pháp mà xây Đại đồn Chí Hòa trong thế “thủ hiểm”.
Câu 6. Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần thứ hai (1882)
- Pháp đang rất cần thị trường, nguyên liệu và nguồn nhân công nên chuẩn bị xâm lược toàn bộ Việt Nam.
- Vu cáo nhà Nguyễn vi phạm Hiệp ước 1874, Pháp cử Ri-vi-e đem quân ra Bắc Kì.
- Ngày 25-4-1882, Ri-vi-e gởi tối hậu thư buộc Hoàng Diệu giao thành, không đợi trả lời, Pháp tấn công thành Hà Nội.
Kết quả: thành mất, Pháp chiếm luôn các tỉnh đồng bằng Bắc Kì như Quảng Yên, Nam Định.
Câu 7. Nhân dân Bắc Kì chống Pháp từ 1883-1884
Trưa 25-4, Hoàng Diệu anh dũng chiến đấu và tự sát để không rơi vào tay giặc.
Nhân dân Bắc Kì chống Pháp dưới mọi hình thức như tự tay đốt các dãy phố để tạo thành bức tường lửa chống Pháp.
Ngày 19-5-1883, Ri-vi-e bị quân của Hoàng Tá Viêm và quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc giết chết tại Cầu Giấy => quân Pháp hoang mang, nhân dân ta phấn khởi.
Câu 8. Cuộc phản công tại Kinh thành Huế và Phong trào Cần Vương bùng nổ
1. Cuộc phản công Kinh thành Huế (7-1885)
Pháp đã thiết lập bộ máy thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Trước tình hình đó, Phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết đứng đầu muốn giành lại chủ quyền từ tay Pháp.
Pháp siết chặt bộ máy kìm kẹp, tìm cách tiêu diệt phái chủ chiến
=> Tôn Thất Thuyết chủ động ra tay trước.
Đêm 4 rạng 5.7.1885, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh cho quân bất ngờ tấn công Pháp ở đồn Mang Cá và Tòa Khâm Sứ nhưng thất bại.
2. Phong trào Cần Vương bùng nổ và lan rộng
Sau thất bại ở Huế, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị).
Ngày 13-7-1885, Ông thay mặt vua ban chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân sĩ phu và nhân dân giúp vua cứu nước.
=>  Phong trào Cần Vương bùng nổ và lan rộng.
Giai đoạn 1885-1888
- Dưới sự lãnh đạo của Vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết, phong trào lan rộng khắp Bắc Kì và Trung Kì, lôi kéo đông đảo văn thân, sĩ phu, tướng lãnh tham gia.
- Tháng 11.1988, Vua Hàm Nghi bị bắt và bị đày sang An-giê-ri.
Giai đoạn 1888-1896: Phong trào được duy trì dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật…và gây nhiều thiệt hại cho Pháp. Tuy nhiên, phong trào kéo dài đến năm 1896 thì thất bại.
Đặc điểm của phong trào Cần vương
Đây là một phong trào đấu tranh rộng lớn, thu hút đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia, đặc biệt là nhân dân ở Bắc Kì và Trung Kì. Một số cuộc khởi nghĩa giành được những thắng lợi bước đầu và gây nhiều thiệt hại cho Pháp như khởi nghĩa Bãi Sậy, Ba Đình, Hương Khê. Tuy nhiên, do chưa có đường lối lãnh đạo đúng đắn, ngọn cờ phong kiến không còn phù hợp…nên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại. Do đó, PTCV cũng kết thúc cùng với tiếng súng núi rừng Vụ Quang năm 1896.
Câu 9. Khởi nghĩa Hương Khê (1885 – 1896)
- Nguyên nhân: để hưởng ứng PTCV, giúp vua cứu nước, Phan Đình Phùng và Cao Thắng xây dựng căn cứ ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình để chống Pháp.
- Từ 1885 – 1888, là giai đoạn xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng và rèn đúc vũ khí.
- Từ 1888 – 1896 là giai đoạn chiến đấu quyết liệt, đẩy lùi nhiều cuộc tấn công của Pháp.
- Tháng 5-1890, Cao Thắng bị thương và hi sinh
- Tháng 10-1894, nghĩa quân giành thắng lợi tại Vụ Quang.
- Ngày 28-12-1895, Phan Đình Phùng hi sinh => khởi nghĩa thất bại (1896)
-Ý nghĩa: đây là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trong PTCV vì thời gian lâu dài nhất (hơn 10 năm), địa bàn rộng lớn nhất (4 tỉnh), chế tạo được súng trường kiểu Pháp, gây nhiều thiệt hại cho Pháp và có chỉ huy tài giỏi như PĐP, Cao Thắng,
- Nguyên nhân thất bại: thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức lãnh đạo.
Câu 10. Khởi nghĩa Yên Thế
a. Nguyên nhân:
Pháp muốn bình định Yên Thế nên nông dân Yên Thế đứng lên đấu tranh để bảo vệ cuộc sống của mình.
b. Diễn biến:
- Từ 1884 – 1892: dưới sự lãnh đạo của Đề Nắm, nghĩa quân hoạt động riêng rẽ, chưa có sự chỉ huy thống nhất.
- Từ 1893 – 1897: dưới sự lãnh đạo của Đề Thám, nghĩa quân vừa chiến đấu, vừa xây dựng cơ sở. Đề Thám 2 lần giảng hòa với Pháp.
- Từ 1898 – 1908: nghĩa quân xây dựng căn cứ, luyện tập quân đội. Yên Thế thành nơi tụ nghĩa của các nhà yêu nước.
- Từ 1909 – 1913: Pháp tập trung đàn áp, phong trào suy yếu. Tháng 2-1913, Đề Thám bị sát hại, nghĩa quân tan rã.
c. Kết quả, ý nghĩa:
- Tuy thất bại nhưng là phong trào dân tộc, yêu nước rộng rãi của nông dân, thể hiện tinh thần bất khuất của dân tộc.

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI LỊCH SỬ 10, HỌC KÌ II Năm học 2014 - 2015

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI HỌC KÌ II Năm học 2014-2015
môn: LỊCH SỬ 10

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI HỌC KÌ 2
NĂM HỌC 2014 – 2015
MÔN: LỊCH SỬ 10
Câu 1. Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước
- Giữa thế kỉ XVIII, đất nước chia cắt, chế độ phong kiến ở Đàng Ngoài và Đàng Trong đều lâm vào khủng hoảng trầm trọng => đời sống nhân dân vô cùng cơ cực.
- Năm 1771 ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa ở Tây Sơn (Bình Định).
- Từ 1771 – 1777, Tây Sơn lật đổ chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
- Từ năm 1786 – 1788 Tây Sơn tiến ra Bắc lật đổ tập đoàn Lê – Trịnh.
=> Bước đầu thống nhất đất nước.
Câu 2. Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp bảo vệ tổ quốc
Sự nghiệp bảo vệ tổ quốc của Tây Sơn gắn liền với hai cuộc kháng chiến vĩ đại.
a.  Cuộc kháng chiến chống quân Xiêm (1785)
- Cuối năm 1784, theo sự cầu viện của Nguyễn Ánh, 5 vạn quân tràn vào chiếm đóng gần một nửa đất Gia Định. Chúng ra sức cướp phá dân ta.
- Tháng 1- 1785, Nguyễn Huệ đã tổ chức trận đánh phục kích ở Rạch Gầm – Xoài Mút (Tiền Giang) đánh tan quân Xiêm, Nguyễn Ánh phải chạy sang Xiêm.
=> Miền Nam trở lại yên bình.
b. Kháng chiến chống quân Thanh (1789)
- Cuối 1788, theo sự cầu viện của Lê Chiêu Thống, 29 vạn quân Thanh tràn vào chiếm Thăng Long. Chúng ra sức cướp phá dân ta.
- Cuối năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, chỉ huy quân tiến ra Bắc.
- Quang Trung dừng chân tại Thanh Hóa, Nghệ An để tuyển thêm quân.
- Từ đêm 30 đến Trưa Mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), nghĩa quân Tây Sơn lập nên chiến công hiển hách ở Ngọc Hồi, Đống Đa, đánh bại hoàn toàn quân xâm lược.
=> với hai cuộc kháng chiến vĩ đại, PTTS đã bảo vệ vẹn toàn độc lập dân tộc.
Câu 3. Tây Sơn và công cuộc xây dựng, khôi phục đất nước
- Năm 1778 Nguyễn Nhạc xưng Hoàng đế, lập vương triều Tây Sơn.
- Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế (Quang Trung) và thực hiện chính sách:
+ Xây dựng chế độ chuyên chế.
+ Ban chiếu kêu gọi nhân dân khôi phục sản xuất.
+ Lập lại sổ hộ.
+ Tổ chức lại giáo dục, thi cử, dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm, dùng chữ Nôm để làm tài liệu dạy học, thi cử.
+ Xây dựng quân đội mạnh.
- Đối ngoại: quan hệ hoà hảo với nhà Thanh, quan hệ với Lào và Chân lạp rất tốt đẹp.
- Năm 1792 Quang Trung qua đời.
- Năm 1802 Nguyễn Ánh tấn công, các vương triều Tây Sơn lần lượt sụp đổ.
Câu 4. Xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước - chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn
- Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi vua (Gia Long), lập ra triều Nguyễn, đóng đô ở Phú Xuân (Huế).
- Năm 1804, đổi tên nước là Việt Nam.

- Tổ chức bộ máy nhà nước:
+ Gia Long chia cắt nước làm ba vùng: Bắc thành, Gia Định thành do Tổng trấn cai quản và Các Trực Doanh (Trung Bộ) do triều đình trực tiếp cai quản.
+ 1831 – 1832 Minh Mạng chia cả nước thành 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên. Đứng đầu là Tổng đốc, Tuần phủ hoạt động theo sự điều hành của triều đình. Dưới là Phủ, huyện, châu, xã vẫn giữ như cũ.
- Quan lại: lúc đầu tuyển chọn những người trước đây theo Nguyễn Ánh, về sau thông qua giáo dục, khoa cử.
- Luật pháp: ban hành bộ Hoàng triều luật lệ với 400 điều nhằm bảo vệ quyền lợi giai cấp thống trị và an ninh đất nước.
- Quân đội: được tổ chức quy cũ trang bị đầy đủ song lạc hậu, thô sơ.
- Ngoại giao:
+ Thần phục nhà Thanh (Trung quốc).
+ Bắt Lào – Chân Lạp thần phục.
+ “Bế quan tỏa cảng” với  phương Tây làm cho VN ngày càng suy yếu.

Câu 5: Tình hình văn hóa – giáo dục dưới Triều Nguyễn
- Tôn giáo: độc tôn Nho giáo, hạn chế các tôn giáo khác, đặc biệt là Thiên Chúa giáo.
- Giáo dục: Nho học được củng cố, song số người thi đỗ đạt không bằng thế kỉ trước.
- Văn học: Văn học chữ Hán kém phát triển, Văn học chữ Nôm phát triển với nhiều tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan.
- Sử học: Quốc sử quán thành lập, nhiều bộ sử lớn được biên soạn: Lịch triều hiến chương loại chí…
- Kiến trúc: tiêu biểu là Kinh đô Huế, lăng tẩm, thành lũy ở các tỉnh, cột cờ Hà Nội.
- Nghệ thuật dân gian: Tiếp tục phát triển theo các hình thức cũ.

Câu 6. Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII
1. Nguyên nhân:
- Sâu xa:   + Kinh tế: nước Anh phát triển nhất Châu Âu đặc biệt là công nghiệp len dạ.
                  + Chính trị: chế độ quân chủ chuyên chế do vua Charles I đứng đầu đã kìm hãm sự phát triển kinh tế, nắm độc quyền ngoại thương, thuế khóa nặng nề
+ Xã hội: Tư sản, quý tộc mới có thế lực về kinh tế nhưng không có quyền lực chính trị. Nhân dân bị PK và Giáo hội bóc lột nặng nề.
=> Mâu thuẫn giữa nhân dân, tư sản, quý tộc mới với PK gay gắt.
- Trực tiếp: Tháng 4-1640, Vua Charles I triệu tập Quốc hội để đòi tăng thuế nhưng bị phản đối => chiến tranh bùng nổ.
2. Diễn biến
- 8 -1642, nội chiến bùng nổ giữa vua và Quốc hội. Đến 1648, nội chiến kết thúc.
- 30-1-1649, Charles I bị xử tử; Anh trở thành nước cộng hòa do O.Cromwell đứng đầu =>Cách mạng đạt đỉnh cao.
- 1653 - 1658, O. Cromwell thiết lập chế độ độc tài quân sự.
- 1658, Romwell mất, Anh lâm vào khủng hoảng.
- Tháng 12-1688 William Orange lên làm vua, nền quân chủ lập hiến được xác lập.
3. Kết quả, Ý nghĩa lịch sử
Kết quả: Cách mạng Anh do TS và Quý tộc mới lãnh đạo, lật đổ phong kiến, mở đường cho CNTB phát triển. => Đây là CMTS.
Ý nghĩa: mở ra thời kì quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản.

Câu 7. Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ TK XVIII
1. Sự phát triển của CNTB ở Bắc Mĩ. Nguyên nhân bùng nổ chiến tranh
Sâu xa:
- Đầu thế kỉ XVIII, người Anh đã lập ra 13 thuộc địa ở Bắc Mĩ.
- Giữa TK XVIII, kinh tế thuộc địa phát triển theo TBCN:
+ Miền Bắc: phát triển công thương nghiệp
+ Miền Nam: phát triển kinh tế nông nghiệp, đồn điền.
- Chính phủ Anh đã: cấm thuộc địa mở doanh nghiệp, cấm đưa máy móc, thợ lành nghề từ Anh sang, cấm khai hoang vùng đất miền Tây, cấm tự do buôn bán, ban hành chế độ thuế khóa nặng nề..
=> mâu thuẫn giữa thuộc địa với chính quốc sâu sắc.
Trực tiếp:
- Tháng 12-1773, sự kiện chè Boston bùng nổ, Anh đóng cửa cảng Boston.
- Tháng 9-1774, Đại hội Lục địa lần thứ nhất tại Philadelphia thất bại.
=> Chiến tranh bùng nổ.
2. Kết quả
Kết quả
- Năm 1783, Anh ký hòa ước Versaillès, công nhận độc lập của Bắc Mĩ.
- Năm 1787, thông qua Hiến pháp, xác lập thể chế Cộng hòa Liên bang do Tổng thống G.Washington đứng đầu.
Ý nghĩa
- Lật đổ nền thống trị của Anh, mở đường cho CNTB phát triển -> đây là CMTS đầu tiên nổ ra ngoài châu Âu, thúc đẩy phong trào cách mạng chống phong kiến ở Châu Âu, là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với nước Pháp.

Câu 8: Cách mạng Tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII
1. Tình hình kinh tế xã hội nước Pháp trước cách mạng
- Kinh tế
+ Nông nghiệp lạc hậu (công cụ sản xuất lạc hậu, thô sơ, năng suất thấp…)
+ Công – thương nghiệp phát triển, sử dụng máy móc phổ biến. mở rộng buôn bán với châu Âu và phương Đông nhưng bị PK kìm hãm.
- Chính trị: duy trì chế độ quân chủ chuyên chế do vua Louis XVI đứng đầu
- Xã hội: gồm 3 Đẳng cấp:
+ Tăng lữ, Quý tộc: hưởng mọi đặc quyền, giữ chức vụ cao, không nộp thuế..
+ Đẳng cấp Thứ ba gồm: tư sản, nông dân, bình dân…không có quyền lực chính trị, bị PK áp bức, bóc lột nặng nề, bị PK cản trở…
=> Mâu thuẫn giữa Đẳng cấp thứ 3  với Tăng lữ, Quý tộc ngày càng sâu sắc.
2. Đấu tranh trên mặt trận tư tưởng
- TK XVIII, xuất hiện Trào lưu “Triết học Ánh sáng” với các đại biểu như: Voltaire, Rousseau,  Montesquieu. Các ông đã kịch liệt tố cáo, phê phán sự thối nát của chế độ PK và Giáo hội Ki-tô, đưa ra triết lý về xây dựng nhà nước mới =>thức tỉnh nhân dân đấu tranh.
3. Ý nghĩa lịch sử cách mạng Pháp cuối thế kỉ XVIII
- Tính chât: Cách mạng Pháp đã hoàn thành nhiệm vụ của một cuộc cách mạng tư sản là: lật đổ và xóa bỏ tàn dư của chế độ phong kiến, giải quyết vấn để ruộng đất cho nhân dân, xóa bỏ những cản trở phát triển kinh tế TBCN và hình thành thị trường dân tộc thống nhất => Đây là cách mạng tư sản triệt để.
- Hạn chế: NHÂN DÂN là lực lượng làm cách mạng thắng lợi nhưng quyền lực nằm trong tay tư sản => Đây là CMTS không triệt để
-Ý nghĩa: làm lung lay chế độ phong kiến châu Âu, mở ra thời đại thắng lợi và củng cố của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi thế giới.