28/3/12

HOÀ HOÃN TRUNG - MĨ VÀ BIỀN ĐÔNG

Chủ Nhật, 26/06/2011, 09:30 (GMT+7)
Hòa hoãn Mỹ - Trung và cuộc cờ Biển Đông
TTCT - Tháng 7 này 40 năm trước, Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Mỹ Richard Nixon, bí mật đến Bắc Kinh mở cánh cửa hòa hoãn với Trung Quốc. Sau này giới nghiên cứu chính trị quốc tế còn gọi sự kiện này mở đầu câu kết Mỹ - Trung lần thứ nhất.
Tiến sĩ Kissinger (bìa trái) trao đổi về những vấn đề giữa Mỹ và Trung Quốc do Thompson Reuters tổ chức tại New York ngày 14-6 - Ảnh: Reuters
Mục đích chính của chuyến đi 40 năm trước là nhằm đưa Mỹ thoát khỏi bãi lầy chiến tranh Việt Nam. Lúc đó 100 cuộc tiếp xúc Mỹ - Trung tại Warszawa bế tắc do vấn đề Đài Loan. Ngoài ra, chính quyền Mỹ cũng cần thăm dò khả năng cùng Trung Quốc thiết lập một cấu trúc địa - chính trị mới thời kỳ hậu chiến tranh Việt Nam.
Trung Quốc kiên nhẫn ngoại giao
Đến năm 2011, sau 50 lần thăm Trung Quốc, tiến sĩ Kissinger, như báo Mỹ thường gọi, rút ra kết luận về đặc tính nổi trội của ngoại giao Trung Quốc là “tính kiên nhẫn” theo đuổi mục tiêu cuối cùng. Điều mà các nhà ngoại giao Mỹ muốn đạt được nhanh chóng với sự “linh hoạt” thì người Trung Quốc có thể chờ đợi với thời gian tính bằng thiên niên kỷ. Khi nắm được “thóp” chính quyền Nixon muốn gì, Bắc Kinh đòi đổi lấy chiếc ghế của Đài Loan tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, đồng thời với việc này là từng bước giải tỏa sức ép bao vây cấm vận từ nhiều hướng.
Mới đây, khi kết thúc chuyến thăm Mỹ, tướng Trần Bính Đức, tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng Trung Quốc, thừa nhận trong một số vấn đề mang tính nguyên tắc, Mỹ không hề có cam kết cải thiện. Trong buổi đối thoại, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton liên tục lặp lại quan điểm rằng “trên thế giới hiện nay chỉ có một Trung Quốc, rằng Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc”.
Tướng Trần Bính Đức đáp lại: “Tôi đã nghe cam kết và tuyên bố như vậy kể từ khi tôi còn là một học sinh và tôi đang nghe điều tương tự khi tôi gần đến tuổi về hưu. Tôi tự hỏi khi nào tôi có thể thật sự chứng kiến thống nhất đất nước”. Khi tướng Trần Bính Đức rời khỏi Mỹ, gần nửa số nghị sĩ nước này đã liên danh đệ đơn hối thúc Tổng thống Obama phê chuẩn thương vụ bán vũ khí cho Đài Loan. Tướng Trần Bính Đức cho biết nếu Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan, Trung Quốc sẽ “đấu tranh kiên quyết”.
Tại Đối thoại chiến lược - kinh tế Mỹ - Trung ở Washington (trong hai ngày 9 và 10-5), trưởng đoàn Trung Quốc, Phó thủ tướng Vương Kỳ Sơn đã đưa ra một nhận xét gây ngạc nhiên là “Mỹ nhìn nhận quá đơn giản về Trung Quốc”. Năm 1971, nền kinh tế Mỹ lớn gấp năm lần kinh tế Trung Quốc; năm 2011, Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất nắm giữ các công trái Mỹ và việc chiếm ngôi quán quân kinh tế thế giới chỉ còn là vấn đề thời gian.
Nhượng bộ lẫn nhau
Sau năm 2010 cọ xát căng thẳng với Mỹ tại ba biển (Hoàng Hải, Đông Hải và Nam Hải), từ đầu năm nay Trung Quốc chủ động mở cánh cửa hòa hoãn với Mỹ, với cuộc gặp thượng đỉnh Trung - Mỹ tháng 1, trước đó thì mời bằng được Bộ trưởng quốc phòng Robert Gates thăm Trung Quốc. Qua hai chuyến thăm liên tiếp trong tháng 5, hai bên đã thiết lập được khuôn khổ cho quan hệ mới với một số nhượng bộ lẫn nhau.
Trung Quốc nhượng bộ Mỹ một số vấn đề kinh tế thương mại, bày tỏ hoan nghênh Mỹ tiếp tục phát huy vai trò ở khu vực và quyết định thành lập các cơ chế tham vấn Trung - Mỹ về các sự vụ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Nhưng trọng tâm mà Trung Quốc hướng tới là trung lập hóa Mỹ để Washington không can dự vào vấn đề biển Đông.
Trong chương cuối cuốn sách Về Trung Quốc xuất bản gần đây, tiến sĩ Kissinger nhận xét rằng sự nổi lên của Trung Quốc “làm cho quan hệ quốc tế một lần nữa hình thành thế lưỡng cực”, báo hiệu một thời kỳ chiến tranh lạnh (thậm chí là nóng) mới.
Một số nhà tư tưởng hiện đại duy lý tại Bắc Kinh khuyên rằng Trung Quốc “không nên hành xử theo cách thức truyền thống của một cường quốc mới nổi” và càng không nên đi theo vết xe đổ của Đức quốc xã sau khi vượt đế chế Anh về sức mạnh kinh tế đã gây ra Thế chiến thứ nhất. Đối với phía Mỹ, ông Kissinger khuyên thay vì “tái cấu trúc châu Á và lập ra khối trên cơ sở kiềm chế Trung Quốc”, nên hợp tác với Trung Quốc để xây dựng một “cộng đồng Thái Bình Dương” mới.
Chỉ với lời khuyên trên, tiến sĩ Kissinger không những là một trưởng lão của ngành ngoại giao Mỹ, mà có thể được xem là công thần của Trung Quốc. Bởi không biết tiến sĩ Kissinger và các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc ai tạo cảm hứng cho ai, nhưng nhân dịp Đối thoại Washington vừa qua, phó đoàn Trung Quốc, ông Đới Bỉnh Quốc, gợi ý rằng “Trung Quốc và Mỹ sẽ cùng thống trị châu Á - Thái Bình Dương”.
Trung Quốc đang mở rộng phạm vi ảnh hưởng toàn cầu và bước vào giai đoạn mới trong chiến lược lấn chiếm biển Đông. Họ cho tàu bè thực hiện những cuộc cọ xát cục bộ trên biển nhằm biến các khu vực không tranh chấp thành có tranh chấp để thực hiện kế hoạch “đường lưỡi bò” trên biển Đông, độc chiếm khai thác dầu khí tại vùng biển này.
Về phía Mỹ, phát biểu của Ngoại trưởng Clinton tại Hà Nội tháng 7-2010 đánh dấu sự chuyển biến chính sách của Mỹ đối với biển Đông từ “trung lập” sang “can dự”. Nhưng những tuyên bố của các quan chức ngoại giao và quân sự Mỹ ngay sau các chuyến thăm một phía của Trung Quốc tới Mỹ cho thấy dường như Washington đã trở lại lập trường “trung lập”.
Biển Đông - khu vực địa chính trị ồn ào nhất thế giới
Mỹ có thể giữ được lập trường trung lập bao lâu một khi Trung Quốc áp đặt thành công “đường lưỡi bò”? Một lần nữa Mỹ lặng lẽ điều siêu hàng không mẫu hạm USS George Washington đến khu vực gần kề biển Đông giữa thời điểm biển Đông đang rầm rộ các cuộc tập trận.
Mỹ cũng bắt đầu điều phối cuộc tập trận hải quân với sáu nước Đông Nam Á trên các vùng biển Tây Thái Bình Dương và eo biển Malacca. Tiếp đó, hải quân Mỹ và Philippines sẽ tiếp tục cuộc tập trận chung kéo dài trong mười ngày trên biển Sulu.
Trong khi đó, 14 chiến hạm nổi của Trung Quốc cùng một số tàu ngầm tiến hành tập trận lớn trên vùng biển Tây Thái Bình Dương thuộc phía tây bờ biển Đài Loan đến hết tháng 6. Mỹ quan ngại vì các tàu khu trục của Trung Quốc có trang bị tên lửa siêu âm SS-N-22 có khả năng tiêu diệt tàu sân bay.
Còn quá sớm để thấy hết lập trường của Mỹ và Trung Quốc trong những vụ việc này, nhưng có thể thấy các cọ xát trên biển Đông giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines đang thử thách cuộc hòa hoãn mới Mỹ - Trung.
Ván bài lần này có thể nhằm cho phép Trung Quốc theo đuổi các mục tiêu giới hạn ở biển Đông, như phóng viên cao cấp Nhân Dân Nhật Báo viết trên Thời báo Hoàn Cầu ngày 15-6 một cách không úp mở: “Không khai thác chung tại biển Đông, tất sẽ tự chuốc lấy phiền phức”, “Nếu cần hòa bình sẽ bắt buộc phải khai thác chung, chia sẻ lợi ích; bất cứ suy nghĩ nào muốn khai thác độc quyền, hưởng lợi một mình đều dẫn đến xung đột”.
Một quan điểm sặc mùi dầu. Nhưng đây có thể lại là một trong các thỏa thuận mà Trung Quốc đạt được tại Đối thoại Washington đầu tháng 5 vừa rồi: Mỹ ủng hộ (hoặc đứng trung lập) để Trung Quốc gây sức ép các bên liên quan ngồi vào thương lượng việc chia chác nguồn tài nguyên phía nam biển Đông. Còn Mỹ làm cái việc vừa là bên cầm trịch vừa là bên tham gia cuộc chơi mới ồn ào ở vùng biển này, nhằm không để xung đột tuột khỏi sự kiểm soát của mình.
Nhưng nếu có một hòa hoãn mới Mỹ - Trung, nó chỉ là một cuộc giải lao giữa hai hiệp đấu. Trung Quốc không thể độc chiếm biển Đông mà Mỹ cũng khó lòng để Trung Quốc làm điều đó. Cả Mỹ, Trung Quốc và các nước lớn khác như Nga, Ấn Độ, Nhật Bản đều quan tâm đến mối liên kết giữa biển Đông với châu Á - Thái Bình Dương. Và rộng hơn nữa là với cuộc đấu tranh giành quyền bá chủ lục địa Âu - Á.
TS NGUYỄN NGỌC TRƯỜNG
Nguồn: http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Van-de-Su-kien/Quoc-te/443924/Hoa-hoan-My---Trung-va-cuoc-co-Bien-Dong.html

CÁC TỔ CHỨC ỦNG HỘ NẠN NHÂN DA CAM VIỆT NAM

Chính trị - Xã hội
Thứ Bảy, 06/08/2011, 05:23 (GMT+7)
Nhiều tổ chức quốc tế ủng hộ nạn nhân da cam VN
TT - Sáng 5-8, Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc VN Huỳnh Đảm đã có cuộc làm việc với Hội Nạn nhân chất độc da cam VN. Hội cho biết nhân dịp kỷ niệm 50 năm thảm họa da cam ở VN, nạn nhân chất độc da cam từ Mỹ, Hàn Quốc và nhiều nước khác sẽ tới tham dự hội nghị quốc tế các nạn nhân chất độc da cam/dioxin lần thứ 2, tổ chức tại Hà Nội trong hai ngày 8 và 9-8.
Sáng 5-8, lãnh đạo UBND TP Đà Nẵng trao 10 phần quà (trị giá 400.000 đồng/suất) cho các nạn nhân chất độc da cam - Ảnh: Đ.Cường
Theo Hội Nạn nhân chất độc da cam VN, hội đang tập hợp hồ sơ một số nạn nhân chất độc da cam mới và tiến hành vụ kiện mới đối với các công ty hóa chất Mỹ tham gia cung cấp chất độc da cam trong chiến tranh ở VN. Phần lớn nạn nhân đứng đơn khởi kiện trong vụ kiện này là nạn nhân thế hệ thứ 2 (con của các cựu chiến binh).
Sáng cùng ngày, tại TP Đà Nẵng, Hội Nạn nhân chất độc da cam TP Đà Nẵng biểu dương “Những tấm lòng vì nạn nhân chất độc da cam/dioxin”. Bà Nguyễn Thị Hiền - chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam TP Đà Nẵng - cho biết thời gian qua có rất nhiều tổ chức, cá nhân quốc tế rất quan tâm đến nạn nhân da cam trên địa bàn đã động viên, thăm hỏi và giúp đỡ chăm sóc nạn nhân da cam như tổ chức phi chính phủ của các nước Mỹ, Canada, Pháp, Hi Lạp...
LAN ANH - ĐOÀN CƯỜNG
NGUỒN: http://123.30.128.11/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Tuoi-tre-cuoi-tuan/449918/Nhieu-to-chuc-quoc-te-ung-ho-nan-nhan-da-cam-VN.html

CUỘC ĐẤU TRANH ĐÒI CÔNG LÝ CỦA NẠN NHÂN DA CAM VIỆT NAM


Chính trị - Xã hội
Thứ Hai, 15/08/2011, 07:37 (GMT+7)
Nạn nhân da cam đoàn kết đấu tranh đòi công lý
TT - Ngày 14-8, Ban vận động cứu trợ và trách nhiệm đối với nạn nhân chất độc da cam VN tại Mỹ đã kết thúc chuyến làm việc tại Đà Nẵng và lên đường đến TP.HCM để tiếp tục khảo sát về nạn nhân da cam.
Đoàn công tác gồm các cựu chiến binh, thế hệ thứ hai của nạn nhân chất độc da cam ở Mỹ, Canada...
Ban vận động cứu trợ và trách nhiệm đối với nạn nhân chất độc da cam VN tại Mỹ ký tên vì công lý cho nạn nhân da cam VN - Ảnh: Đoàn Cường
Sau ba ngày lưu lại Đà Nẵng, đoàn đã đến thăm, giao lưu với các nạn nhân da cam, thăm điểm nóng dioxin tại sân bay Đà Nẵng. Ông Kenneth Herbert Young (Canada) chia sẻ ông từng là một người lính và cũng là nạn nhân da cam chịu hậu quả phải cắt lá lách, ung thư đại tràng...
“Chúng tôi đã thành lập Hội Nạn nhân chất da cam Canada để tiến hành kiện Chính phủ Canada. Nạn nhân chất da cam ở Canada cũng như VN đều có cùng nỗi đau. Vì thế cần đoàn kết nhau lại để đấu tranh”. Còn bà Katherine Khanh Pham (người Mỹ gốc Việt) đang hoạt động cho Tổ chức VietUnity - đấu tranh cho các vấn đề công bằng xã hội, trong đó có vấn đề da cam - bày tỏ: “Đối mặt với các công ty hóa chất Mỹ, những nạn nhân da cam cần phải đoàn kết nhau lại. Hàng ngàn người Mỹ gốc Việt sẵn sàng đoàn kết trong cuộc đấu tranh vì công lý này”.
Theo bà Nguyễn Thị Hiền - chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam Đà Nẵng: “Sau cuộc làm việc này, đoàn công tác sẽ chuyển thông điệp kêu gọi đoàn kết đấu tranh vì nạn nhân da cam VN đến với cộng đồng thế giới”.
Đ.CƯỜNG
nguồn: http://123.30.128.11/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Tuoi-tre-cuoi-tuan/451295/Nan-nhan-da-cam-doan-ket-dau-tranh-doi-cong-ly.html

Cuộc chiến chống Chiến tranh Hoá học trong lòng nước Mĩ

Tuổi Trẻ Cuối tuần
Thứ Bảy, 02/07/2011, 11:27 (GMT+7)
Hồ sơ: Hành trình 10 năm hủy diệt của chất độc da cam - Kỳ 2:
Trận chiến trong lòng nước Mỹ
TTCT - Tháng 8-1962, Nhà Trắng phát tín hiệu về việc mở rộng chiến dịch Bàn tay nông trại từ giai đoạn thử nghiệm sang hoạt động quân sự thường xuyên nhằm hậu thuẫn chính quyền Sài Gòn.
Dưới thời tổng thống Lyndon B. Johnson, số phi vụ rải hóa chất ngày càng tăng cao, đặc biệt là giai đoạn 1966-1968. Tổng cộng trong suốt 10 năm, 5 triệu hecta đất trên toàn miền Nam, chiếm 12% diện tích Việt Nam, đã hứng chịu các loại hóa chất phát quang cây cỏ.
Triển lãm ảnh tư liệu “Nỗi đau chiến tranh ở VN” của nhà nhiếp ảnh Nhật Bản Murayana Yasufumi tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh TP.HCM tháng 6-2007 - Ảnh: Thanh Đạm
Wilfred Burchett, một phóng viên Úc, là người đầu tiên công khai phản đối chiến tranh diệt cỏ của Mỹ trong bài viết mang tựa đề Miền Nam Việt Nam: cuộc chiến chống lại cây cỏ, đăng trên tờ Thời Đại Mới tại Liên Xô. Không lâu sau đó, nhiều chính khách Mỹ bắt đầu bày tỏ sự quan ngại của mình.
Giới khoa học phản đối mạnh mẽ
Hạ nghị sĩ bang Wisconsin Robert Kastenmeier gửi thư cho tổng thống Kennedy từ năm 1963 kêu gọi ngừng các đợt rải hóa chất tại Việt Nam vì lý do pháp lý và đạo đức. Hai tuần sau đó, tạp chí chính trị hàng đầu tại Mỹ, tờ Tân Cộng Hòa, đăng tải bài xã luận đầu tiên phản đối loại hình chiến tranh diệt cỏ. Động thái của Tân Cộng Hòa gây tác động lớn trong cộng đồng khoa học Mỹ.
Năm 1969, William Haseltine, sinh viên ngành sinh học tại Đại học Harvard, tiếp cận được tài liệu cho thấy các quan chức Chính phủ Mỹ đang giấu thông tin về ảnh hưởng tiềm ẩn của chất 2,4,5-T (một thành phần trong hợp chất da cam) đối với phôi thai ở loài chuột.
Tháng 10-1964, tờ Bản tin của các nhà khoa học Mỹ, cơ quan phát ngôn của Liên đoàn Các nhà khoa học Mỹ (FAS), chính thức đăng bài kêu gọi Chính phủ Mỹ ngừng các đợt rải hóa chất: “...FAS thúc giục tổng thống tuyên bố chính sách cấm khai chiến bằng các loại vũ khí hóa sinh học, ngừng sản xuất các loại vũ khí sinh học, đồng thời ngưng phát triển các loại vũ khí mới”.
Một năm sau đó, Hiệp hội Vì sự tiến bộ của khoa học Mỹ (AAAS) bắt đầu tham gia cuộc chiến chống chiến tranh diệt cỏ. Tại buổi họp thường niên của AAAS năm 1965, tổ chức này công bố một nghị quyết mang tên Dàn xếp chiến tranh Việt Nam, trong đó nhấn mạnh: “Việc kéo dài chiến tranh Việt Nam đe dọa không chỉ sinh mạng của hàng triệu người mà còn hủy hoại các giá trị và mục tiêu nhân bản mà chúng ta đang cố gắng gìn giữ...
Với tư cách là nhà khoa học, chúng tôi có trách nhiệm phải chỉ rõ cái giá mà nghiên cứu khoa học đang phải gánh chịu vì chiến tranh. Khoa học không thể phồn thịnh, thậm chí có thể bị thiệt hại, trong một quốc gia ngày càng tăng cường nguồn lực cho các mục đích quân sự”.
Mùa hè năm 1966, giáo sư Bert Pfeiffer thuộc Đại học Montana, thành viên của AAAS, khởi đầu phong trào khoa học phản đối chiến dịch Bàn tay nông trại bằng việc soạn thảo một văn bản kêu gọi tiến hành điều tra tác động của hóa chất phát quang cây cỏ tại miền Nam Việt Nam.
Ban đầu, hội đồng điều hành của AAAS bác bỏ yêu cầu của giáo sư Pfeiffer về việc hiệp hội này tham gia trực tiếp quá trình điều tra. Tuy nhiên đến tháng 9-1967, chủ tịch AAAS Don Price đã gửi thư cho bộ trưởng quốc phòng McNamara đề xuất việc bộ này phê chuẩn và hỗ trợ một cơ quan khoa học độc lập tiến hành nghiên cứu những tác động ngắn và dài hạn của chất độc da cam.
Trước đó tháng 1-1966, 29 nhà khoa học thuộc Đại học Harvard và các cơ quan giáo dục khác tại thành phố Boston đã gửi đến Nhà Trắng một thư ngỏ phản đối chiến tranh diệt cỏ và yêu cầu chấm dứt các hoạt động quân sự liên quan. Trong lá thư, nhóm các nhà khoa học này tuyên bố việc rải hóa chất tại miền Nam Việt Nam là “man rợ”, tương đương với “một cuộc tấn công vào toàn bộ cư dân tại vùng mà mùa màng bị tiêu diệt”.
Theo một văn bản trong hồ sơ Nhà Trắng, đích thân tổng thống Johnson ra lệnh cho bộ tham mưu của mình làm ngơ với thư ngỏ này. Lá thư nói trên chính là ý tưởng tiền thân cho cụm từ “tội ác môi trường” (ecocide) mà tiến sĩ Arthur Galston đặt ra sau này.
Tháng 9-1966, một nhóm gồm 12 nhà lý sinh học do tiến sĩ Galston dẫn đầu tiếp tục gửi một lá thư khác đến Nhà Trắng kêu gọi tổng thống Johnson ngừng rải hóa chất tại Việt Nam.
Trong thư, các nhà khoa học nhấn mạnh: “Một hóa chất được tạo ra để làm rụng lá cây cũng có thể gây ra tác động phụ đối với các loài cây cỏ khác, trong đó có cả vụ mùa... Do tính độc hại của một số hóa chất, không thể bảo đảm rằng hợp chất phát quang hoàn toàn không có ảnh hưởng độc hại đến con người và thú nuôi trong nhà... Sử dụng hợp chất phát quang cây cỏ một cách ồ ạt có thể làm phương hại đến hệ sinh thái của toàn vùng, thậm chí có thể đến mức thảm họa”.
Lá thư cũng đề cập tác hại của việc hủy hoại mùa màng đối với người dân vùng bị rải hóa chất, cụ thể là việc phụ nữ và trẻ em bị mất nguồn lương thực.
Hai tuần sau đó, tiến sĩ Galston nhận được hồi đáp của một trợ lý ngoại trưởng, khẳng định rằng những quan ngại khoa học đưa ra là không có cơ sở.
Ngay trong nội bộ AAAS, nhóm các nhà khoa học bày tỏ quan ngại về chất độc da cam cũng rơi vào tình trạng thiểu số. Một trưng cầu nội bộ của hiệp hội này tại thời điểm đó cho thấy 81% ủng hộ chiến dịch rải hóa chất của Chính phủ Mỹ tại miền Nam Việt Nam.
Viện Nghiên cứu trung tây (MRI) thuộc Đại học Kansas, cơ quan được Bộ Quốc phòng Mỹ giao hợp đồng tiến hành đánh giá tác động của chất độc da cam, kết thúc chương trình nghiên cứu vào tháng 12-1967 với kết luận chung rằng chiến dịch Bàn tay nông trại chỉ là phần mở rộng quân sự của các hoạt động phát quang cây cỏ thông thường, và chỉ có tác động lên cây cỏ “tương đương với việc phát quang rừng bỏ hoang”.
Những bằng chứng đánh động dư luận
Ngày 19-7-1968, ban giám đốc AAAS công bố tuyên ngôn trên tạp chí Khoa Học, kêu gọi tiến hành gấp rút các cuộc nghiên cứu dài hạn tại hiện trường miền Nam Việt Nam, yêu cầu quân đội Mỹ công khai tài liệu cho các cơ quan nghiên cứu độc lập, và kêu gọi Liên Hiệp Quốc dẫn đầu một đoàn nghiên cứu đến Việt Nam.
Lầu Năm Góc bác bỏ yêu cầu này. Tuy nhiên, trợ lý ngoại trưởng Mỹ Charles Bohlen lại bày tỏ sự hưởng ứng mạnh mẽ đối với quan điểm của AAAS. Dưới áp lực của Bộ Ngoại giao, Lầu Năm Góc nhượng bộ vào tháng 10-1968.
Tháng 8-1970, hai giáo sư Mỹ Bert Pfeiffer và Gordon Orians tiến hành đợt khảo sát đầu tiên trong vòng hai tuần tại miền Nam Việt Nam. Báo cáo của chuyến khảo sát này, đăng trên bản tin của Tổ chức vì trách nhiệm xã hội của khoa học (SSRS), ghi nhận sự thiếu vắng rõ ràng của chim chóc và các loài động vật hoang dã tại các vùng bị rải hóa chất, và sự khác biệt của chất lượng rừng phụ thuộc vào mức độ rải hóa chất - ở những vùng rừng bị rải nhiều đợt, các loại hạt và giống cây yếu chết hàng loạt trên diện tích rộng hàng trăm hecta.
Sinh thái của những vùng lân cận cũng chịu ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt là những vùng rừng cao su vốn nằm ngoài danh sách mục tiêu rải hóa chất trực tiếp.
Trước đó năm 1969, William Haseltine, sinh viên ngành sinh học tại Đại học Harvard, tiếp cận được tài liệu cho thấy các quan chức Chính phủ Mỹ đang giấu thông tin về ảnh hưởng tiềm ẩn của chất 2,4,5-T (một thành phần trong hợp chất da cam) đối với phôi thai ở loài chuột.
Haseltine cho biết phản ứng của ông lúc đó là: “Nếu loại chất này gây dị tật cho chuột sơ sinh, hẳn cũng phải có tác động xấu đối với con người. Công bố thông tin này chắc hẳn có thể giúp ngăn chặn được việc sử dụng chất độc da cam”.
Tháng 1-1970, Haseltine công bố thông tin này trên tạp chí Tân Cộng Hòa trong bài báo đồng tác giả với giáo sư Galston và một sinh viên Đại học Yale tên Robert Cook. Bài báo gây chấn động mạnh mẽ trong xã hội Mỹ.
Tháng 4-1970, Chính phủ Mỹ bắt đầu những nỗ lực tránh cho con người không phải tiếp xúc với chất 2,4,5-T ở cả hai phía Mỹ và miền Nam Việt Nam. Bộ trưởng các bộ nông nghiệp, nội vụ, y tế, giáo dục và phúc lợi Mỹ đồng loạt công bố quyết định ngừng tức thì việc sử dụng hóa chất này trong mọi hoạt động liên quan đến tiêu thụ của con người.
Cũng trong tháng 4-1970, thứ trưởng Bộ Quốc phòng David Packard cuối cùng đã hạ lệnh chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng chất độc da cam “cho đến khi kết thúc quá trình đánh giá tình hình (ảnh hưởng của chất này)”.
CAM LY lược dịch
__________
Kỳ cuối: Trách nhiệm tối hậu thuộc về Nhà Trắng
nguồn: http://123.30.128.11/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Tuoi-tre-cuoi-tuan/444760/Tran-chien-trong-long-nuoc-My.html

VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN WILFRED BURCHETT

Việt Nam từ góc nhìn Wilfred Burchett
TT - Hai người đàn ông khoảng 60 tuổi, từng chiến đấu ở chiến trường miền Nam, thốt lên trước bức ảnh những người dân miền Bắc đang sửa chữa cầu đường sau trận bom Mỹ: “Có điều gì mà con người không làm được!”. Có lẽ nhà báo người Úc Wilfred Burchett cũng có suy nghĩ ấy khi chụp những bức ảnh này.
Một vài bức ảnh ở Điện Biên Phủ, ở chiến trường Nam bộ, người ta nhìn thấy Wilfred Burchett trong bộ bà ba sẫm màu, khăn rằn đặc trưng Nam bộ. (Ảnh trái). Trẻ em Hà Nội năm 1966. Ảnh: Wilfred Burchett (Ảnh phải).
Nhà báo người Úc Wilfred Burchett (1911-1983) - người được gọi là một huyền thoại gây nhiều tranh cãi với những bài viết trên khắp các chiến trường từ châu Âu sang châu Á, châu Mỹ. Trong nhiều thập niên của thế kỷ 20, ông có mặt ở nhiều điểm nóng của Thế chiến thứ nhất, chiến tranh Đông Dương, phong trào đấu tranh Mỹ Latin, chiến tranh biên giới Việt - Trung.
100 bức ảnh được trưng bày trong triển lãm “Wilfred Burchett và Việt Nam” tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) cũng đủ để nói lên tình yêu và sự trân trọng của ông đối với mảnh đất này. Các chủ đề được phân chia rõ ràng: Phía Bắc vĩ tuyến 17 với những bức ảnh về chiến khu Việt Bắc, Điện Biên Phủ, cuộc sống lao động và sản xuất ở miền Bắc từ 1954-1956; Câu chuyện từ chiến khu ghi lại trong vùng giải phóng miền Nam Việt Nam; Những hình ảnh miền Bắc năm 1966. Ông gặp và phỏng vấn hầu hết những con người đi đầu trong cuộc chiến chống Pháp và Mỹ: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Hữu Thọ...
Trong ảnh của Wilfred Burchett chụp Việt Nam có chiến tranh, hòa bình, có mất mát và những khoảnh khắc bình yên. Ông là nhà báo phương Tây đầu tiên nhìn và cung cấp những thông tin về chiến tranh Việt Nam từ “phía bên kia”, tức là từ phía miền Bắc Việt Nam và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Những bức ảnh, những bài viết và bản thân con người Wilfred Burchett đã mở ra cho thế giới biết một góc nhìn khác về những người cộng sản thời kỳ đó.
George Burchett - con trai của Wilfred Burchett - chia sẻ rằng hàng ngàn bài viết, bức ảnh suốt 25 năm về Việt Nam cũng mang đến khá nhiều hệ lụy cho người cha và gia đình mình và cái tên Wilfred Burchett vẫn là chủ đề gây tranh cãi cho đến tận ngày nay. George Burchett nhận rằng “Việt Nam luôn ngự trị trong tâm trí tôi”, không chỉ bởi ông sinh ra ở Hà Nội năm 1955 mà đơn giản bởi câu chuyện về Việt Nam mà người cha mang về sau mỗi chuyến đi.
HÀ HƯƠNG
Nguồn: http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/456009/Viet-Nam-tu-goc-nhin-Wilfred-Burchett.html

25/3/12

CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ ĐẠI NGHỊ Ở QUỐC(1948 – 1958)


CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ ĐẠI NGHỊ Ở  QUỐC(1948 – 1958)
Th.S Lê Tùng Lâm - Khoa SP. Khoa học Xã hội, Trường Đại học Sài Gòn

Tháng 11 năm 1943, Hội nghị Cairo đã được tổ chức với sự tham gia của Tổng thống Mĩ F. Roosevelt, Thủ tướng Anh W. Churchill và Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai Shek), các bên đã thông qua tuyên bố Cairo. Theo đó, “vào một lúc thích hợp, Triều Tiên sẽ trở nên tự do và độc lập”[1,251]. Tuy nhiên, ý tưởng này đã nhanh chóng được thay thế bằng một kế hoạch mới: “thiết lập chế độ Ủy trị quốc tế đối với Triều Tiên”.
Ngày 8 tháng 8 năm 1945, sau khi tuyên chiến với Nhật, Hồng quân Liên Xô đã nhanh chóng tiến vào lãnh thổ Triều Tiên từ phía Bắc xuống. Hồng quân Liên Xô đã nhanh chóng đánh bại các thế lực phát xít Nhật ở Bắc Triều Tiên mà không vấp phải một sự kháng cự nào đáng kể. Đây là điều mà Mĩ không lường trước được. Sự suy yếu và tan rã nhanh chóng của quân đội Nhật đã tạo cơ hội thuận lợi cho Liên Xô chiếm đóng toàn bộ bán đảo Triều Tiên trước khi quân đội Mĩ đến. Do đó, Mĩ đã đề nghị Liên Xô phân chia Triều Tiên thành hai vùng hoạt động quân sự dọc theo vĩ tuyến 38: Miền Bắc (77.539 km2) là vùng thuộc Liên Xô kiểm soát, miền Nam (59.589,3km2) là vùng thuộc Mĩ kiểm soát. Stalin đã đồng ý với đề nghị này và ra lệnh cho quân đội của mình dừng chân ở vĩ tuyến 38.
Ngày 6 tháng 9 năm 1945, 72.000 quân đội Mĩ dưới sự chỉ huy của Trung tướng  J. R. Hodge đã đến Nam Triều Tiên. Khi vào Seoul, nhà cầm quyền Mĩ đã chấp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản, giải giới quân đội Nhật và bắt tất cả  kiều dân Nhật sống tại Triều  Tiên hồi hương [1, 255]. Đồng thời, người Mĩ đã không thừa nhận tính hợp pháp của chính phủ Cộng hòa nhân dân Triều Tiên. Họ đã thiết lập Chính phủ quân quản của quân đội Mĩ ở Triều Tiên (USAMGIK) và đặt Nam Triều Tiên dưới sự cai trị quân sự. Tuy nhiên, những việc làm này của Mĩ đã làm cho người dân Triều Tiên thất vọng cai đắng và tỏ ra căm thù với sự cai trị quân sự của Mĩ. Để xoa dịu dư luận cũng như những phản đối của nhân dân Triều Tiên, Mĩ đã thành lập Hội đồng tư vấn Triều Tiên (10.1945) do Tiến sĩ Rhee Sungman đứng đầu. Mong muốn của Mĩ là tìm một giải pháp hòa hợp trong vấn đền Triều Tiên. Người Mĩ muốn Triều Tiên được thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người thân Mĩ.
Tháng 12 năm 1945, tại hội nghị Moscow, các bộ trưởng các nước Anh, Mĩ, Liên Xô đã chấp nhận kế hoạch đặt Triều Tiên dưới sự Ủy trị quốc tế của tứ cường là Liên Xô, Mĩ, Anh và Trung Quốc. Kế hoạch này đã bị nhân dân Triều Tiên phản kháng kịch liệt [47,545]. Phong trào đấu tranh của nhân dân diễn ra sôi nổi, các cửa hiệu, công ty đóng cửa, các cuộc biểu tình, tuần hành trên đường phố ngày càng nhiều. Tình trạng này làm cho quá trình thống nhất Triều Tiên gặp trở ngại nghiêm trọng. Trong tình thế đó, Tướng Hodge đã thực hiện chính sách Hàn hóa nền cai trị quân sự của Mĩ. Để chuẩn bị cho người Triều Tiên đảm nhận an ninh quốc gia của chính mình, tháng 1 năm 1946, Chính phủ quân quản Mĩ thành lập sở cảnh sát gồm 25.000 người và đội biên phòng 2.500 người, huấn luyện quân sự cho họ với các thiết bị tịch thu của người Nhật. Sau đó, Ngày 14 tháng 2 năm1946, Hội đồng đại diện cho nền dân chủ Triều Tiên được thành lập do Rhee Sungman đứng đầu. Đây là cơ quan tư vấn và chấp hành mệnh lệnh của tư lệnh quân đội chiếm đóng Mĩ – tướng Hodge. Tuy nhiên, quá trình đàm phán giữa Mĩ và Liên Xô về vấn đề Ủy trị quốc tế cho Triều Tiên đang gặp khó khăn và có nguy cơ phá sản do bất đồng quan điểm giữa hai cường quốc Xô – Mĩ.
Tháng 11 năm 1946, người Mĩ thành lập Nghị viện lập pháp quá độ Nam Triều Tiên (SKILA) với 90 thành viên, trong đó Mĩ bổ nhiệm 45 thành viên, 45 thành viên còn lại được bầu ra qua những cuộc bầu cử gián tiếp [83, 43]. Như vậy, Nghị viện lập pháp này do người Mĩ lập ra và nắm quyền chi phối nó với 50% đại biểu. Do đó, số phận của Viện lập pháp tùy thuộc vào thái độ của Mĩ.
Tháng 5 năm 1947 người đứng đầu bộ máy chính quyền phong tỏa Mĩ công bố sắc lệnh 141 về việc thay đổi tên Viện  lập pháp và bộ máy hành chính dân sự thành Chính phủ quá độ Nam Triều Tiên (SKIG) gồm cơ quan lập pháp, Tòa án, bộ máy cảnh sát và bộ máy hành chính [83,44]. Tuy nhiên, cả hai cơ quan Nghị viện lập pháp quá độ (SKILA) lẫn chính phủ quá độ Nam Triều Tiên (SKIG) đều không có thực quyền. SKILA không có quyền lập pháp độc lập đúng nghĩa, SKIG không được giao quyền ra quyết định. Mọi quyền hành do Đốc quân sự Mĩ và Tướng Hodge nắm giữ và chi phối hai tổ chức này. Rõ ràng, Mĩ đã từng bước xây dựng bộ máy chính quyền thân Mĩ tại Nam Triều Tiên.
Như vậy, đến nửa đầu năm 1947, hàng loạt sự kiện đã diễn ra như: sự ra đời Ủy ban nhân dân Bắc Triều Tiên (2.1947) do Kim Il Sung làm chủ tịch; Tổng thống Mĩ Truman đã công bố “ chủ thuyết  Truman ” (3. 1947) chính thức phát động cuộc chiến tranh lạnh; Chính phủ quá độ Nam Triều Tiên được thành lập (5.1947) do Rhee Sung man đứng đầu…  đã làm phá sản hoàn toàn kế hoạch đặt Triều Tiên dưới chế độ ủy trị quốc tế. Thay vào đó, xuất hiện xu hướng thành lập hai nhà nước riêng biệt ở hai miền Nam – Bắc.
Trước tình thế mới này, tháng 9 năm 1947, Mĩ tuyên bố sẽ đưa vấn đề Triều Tiên lên Liên Hiệp Quốc xem xét. Tuy nhiên, quyết định này vấp phải sự phản đối của Liên Xô và các nước đồng minh. Liên Xô đã tuyên bố “tẩy chay Liên Hiệp Quốc” vì Liên Xô cho rằng “ Liên Hiệp Quốc không có thẩm quyền giải quyết các vấn đề do chiến tranh để lại” và “ Liên Xô yêu cầu phải mời đại diện của hai miền Nam Bắc Triều Tiên (chưa phải là các chính phủ có chủ quyền, không phải là hội viên của Liên Hiệp Quốc) tham gia vào cuộc họp Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc về vấn đề Triều Tiên [33, 47]. Nhưng tất cả các đề nghị này của Liên Xô đã bị bác bỏ. Do đó, Liên Xô và các nước đồng minh của mình  quyết định không tham gia thảo luận và biểu quyết về vấn đề Triều Tiên tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Bất chấp sự phản đối của Liên Xô và các nước cùng phe, ngày 10 tháng 10 năm1947, Đại hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã họp để bàn về vấn đề Triều Tiên. Tại đây, Mĩ và các nước đồng minh đã thông qua nghị quyết về vấn đề Triều Tiên (với 43 phiếu thuận, 6 trắng, 0 chống) với nội dung:
- Tổ chức tổng tuyển cử trong cả nước trước ngày 31 tháng 3 năm 1948 để bầu Quốc hội và lập chính phủ chung của cả nước Triều Tiên.
- Thành lập “Ủy ban lâm thời của Liên hiệp Quốc về Triều Tiên” (The United Nations Temporary Commission on Korea- UNTCOK)  với sự tham gia của 9 nước là Australia, Canada, Trung Quốc (Đài Loan của Tưởng Giới Thạch), Pháp, Ấn Độ, Philippines, El Salvador, Syria và Ukraina (riêng Ukraina từ chối tham gia Ủy ban). Ủy  ban này có nhiệm vụ xúc tiến và kiểm soát việc tổng tuyển cử và việc thành lập chính phủ cho cả nước Triều Tiên  trên cơ sở hiến pháp dân chủ, thúc đẩy việc rút quân đội chiếm đóng nước ngoài ra khỏi Triều Tiên.
- Quân đội Mĩ và Liên Xô còn được trú đóng tại Triều Tiên 90 ngày kể từ khi Chính phủ Triều Tiên được thành lập với lực lượng cảnh sát có đủ khả năng giữ gìn trật tự trị an [35,44].
Như vậy, Mĩ đang ngày càng can thiệp sâu hơn vào Triều Tiên. Ý tưởng tiến hành cuộc tổng tuyển cử trong cả nước Triều Tiên mà không có sự tham gia của Liên Xô đã tạo điều kiện cho việc thành lập chính phủ thân Mĩ tại Triều Tiên được thuận lợi hơn. Do đó, tháng 11 năm 1947 Ủy ban lâm thời Liên Hiệp Quốc về Triều Tiên (UNTCOK) được chính thức thành lập và bắt đầu hoạt động. Tuy nhiên, Liên Xô không công nhận tổ chức này và không cho nó hoạt động ở miền Bắc. Ủy ban này đành phải giới hạn hoạt động trong phạm vi miền Nam mà thôi. Đối phó với tình thế khó xử này, sau khi tham khảo ý kiến Ủy ban thứ nhất của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, UNTCOK quyết định tổ chức tổng tuyển cử ở miền Nam – nơi 2/3 dân số Triều Tiên cứ trú. UNTCOK xem tổng tuyển cử là hợp pháp khi cho phép 2/3 dân số Triều Tiên quyết định tương lai chính trị của mình và thành lập một chính phủ cho cả Triều Tiên. Do đó, Tướng Hodge đã thông báo ngày 1 tháng 3 năm 1948, các cuộc bầu cử chuẩn bị được tiến hành cho cuộc tổng tuyển cử ở Nam Triều Tiên (nơi có 21,3 triệu dân) vào ngày 10 tháng 5 năm 1948 dưới sự bảo trợ và giám sát của Liên Hiệp Quốc.
Bất chấp sự chống đối của những người cộng sản Triều Tiên, đến ngày 9 tháng 4 – ngày cuối cùng đăng ký cử tri, đã có 7,8 triệu cử tri có đủ điều kiện đi bầu (chiếm 79,9% dân số trên 21 tuổi) đã đăng ký và có 842 ứng cử viên (kể cả 17 phụ nữ) ứng cử vào Quốc hội [1,271]. Ngày 10 tháng 5 năm 1948, UNTCOK chính thức tổ chức cuộc tổng tuyển bầu Quốc hội Triều Tiên ở miền Nam với sự tham gia của 7,7 triệu cử tri, chiếm 95% cử tri đăng ký. Kết quả bầu ra được 198 đại biểu Quốc hội cho miền Nam, 100 ghế đại biểu còn bỏ trống cho đại biểu nhân dân miền Bắc và 2 ghế cho đại biểu nhân dân tỉnh Tế Châu – nơi đang diễn ra cuộc xung đột do cộng sản gây ra. Quốc hội đầu tiên được bầu ra gồm 198 đại biểu, trong đó có 84 địa chủ, 32 nhà tư sản, 23 quan lại và 59 người lãnh đạo các tổ chức cực đoan khác [83,45]. Theo kết quả bầu cử này, có đến 107/198 đại biểu Quốc hội là địa chủ, quan lại – những người thuộc hệ tư tưởng phong kiến.
Ngày 31 tháng 5 năm 1948, Quốc hội họp phiên đầu tiên, bầu tiến sĩ Rhee Sungman làm chủ tịch Quốc hội. Đảng cánh hữu của Rhee Sungman giành được đa số ghế và đứng ra thành lập chính phủ. Ngày 17 tháng 7, Hiến pháp được thông qua. Quốc hội quyết định đặt tên nước là: Đại Hàn Dân Quốc ( ROK – Republic of Korea), thiết lập thể chế dân chủ và bầu Rhee Sungman làm Tổng thống đầu tiên của Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc). Ngày 20 tháng 7, Rhee Sungman chính thức trở thành tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc.
Ngày 15 tháng 8 năm 1948, nước Đại Hàn Dân Quốc chính thức được thành lập. Chính phủ Hàn Quốc đóng tại Seoul và kiểm soát khu vực Nam Triều Tiên. Ngay sau đó, ngày 12 tháng 12 năm 1948, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết thừa nhận chính phủ Đại Hàn Dân Quốc do Tổng thống Rhee Sungman đứng đầu là chính phủ hợp pháp, duy nhất tại Triều Tiên. Ngày 1 tháng 1 năm 1949, Mĩ chính thức thừa nhận chính phủ của Rhee Sungman.
Như vậy, Nhật đầu hàng đồng minh là thời cơ vô cùng thuận lợi để nhân dân Triều Tiên giải phóng dân tộc, giành lại độc lập. Tuy nhiên, nội bộ Triều Tiên đã bị phân hóa thành những luồng tư tưởng khác nhau là: chủ nghĩa dân tộc của người Triều Tiên; chủ nghĩa cộng sản theo Liên Xô và tư tưởng dân chủ thân Mĩ. Cuộc bất đồng, chia rẽ nội bộ cùng với sự can thiệp của Mĩ và Liên Xô đã đẩy những nổ lực thống nhất Triều Tiên của những người theo chủ nghĩa dân tộc đi vào con đường bế tắc. Cuối cùng, những người theo chủ nghĩa dân tộc đã bị những thế lực mạnh hơn cùng với đế quốc gạt ra bên lề chính trị. Hậu quả là trong vòng hai tháng: tháng 8 và tháng 9 năm 1948, nhân dân Triều Tiên phải chứng kiến sự ra đời của hai nhà nước trên cùng một đất nước là : Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc) ở miền Nam  (8.1948) và Cộng hòa dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở miền Bắc (9.1948). Vĩ tuyến 38 trở thành ranh giới chia đôi đất nước.

Hồ Chí Minh và Nước Mĩ


NGUYỄN ÁI QUỐC VÀ NƯỚC MỸ (1911 – 1930)
PHẠM THỊ THU NGA (*)
I. Đầu thế kỷ XX, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp cùng nhiều ảnh hưởng của các sự kiện lớn trên thế giới đã tác động đến một loạt các phong trào vận động cứu nước diễn ra theo xu hướng tư tưởng mới thay thế tư tưởng phong kiến, từ đó chi phối phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta đầu thế kỷ XX. Tuy là xu hướng tiến bộ, song tầng lớp sĩ phu đang trên đường “tư sản hoá” do ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây đã sớm tỏ ra bất lực trước tình hình và nhiệm vụ mới của dân tộc. Vì vậy phong trào đấu tranh yêu nước chống Pháp xâm lược của nhân dân ta thời bấy giờ dường như “trong đêm tối không có đường ra”.
Xuất hiện trong bối cảnh lịch sử đó, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành không chỉ kế thừa những tinh hoa của nhân loại mà còn vượt lên những người cùng thời đại, cùng hoàn cảnh. Tuy rất khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu… nhưng Nguyễn Tất Thành lại hoàn toàn không tán thành cách làm của một người nào. Vì thế hơn hẳn Bùi Viện trước đó gần 40 năm, khi quyết định đi ra nước ngoài (1911) nhằm thực hiện hoài bão cứu nước cứu dân, Nguyễn Tất Thành đã dám “phủ định con đường xuất dương truyền thống” của cha ông. Sang phương Tây chứ không phải Trung Quốc, Nhật Bản. Tại sao Người không theo con đường truyền thống của cha ông, mà lại sang phương Tây? Trả lời nhà văn Mỹ Anna Louis Strong, Người nói rõ: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho Mỹ; tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi.” [1,13]. Xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân, có hoài bão cứu nước và thấu hiểu được sức mạnh của ý chí độc lập, tự cường dân tộc, lại có tư chất thông minh, nhãn quan chính trị sắc sảo và chí lớn tìm đường cứu nước, bị cuốn hút bởi sự hấp dẫn của các từ “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” từ các cuộc cách mạng tư sản Âu - Mỹ lan truyền sang Việt Nam, Người đã không đi theo con đường mòn của các bậc tiền bối, mà chọn cho mình hướng đi hoàn toàn mới, đó là “một quyết định đúng ở vào thời điểm cần quyết định” [2,29]. Điều này có ý nghĩa lớn lao không chỉ đối với bản thân Người mà đối với cả dân tộc Việt Nam. Quả thật “…con đường đi đến phương Tây đầy bí ẩn với tất cả những triển vọng chưa lường hết được. Sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu từ đây, vận mệnh lớn của nước, của dân gắn bó mật thiết với một quyết định mà lịch sử đã chứng minh là sáng suốt phi thường.” [3]
II. Trong quá trình bôn ba hải ngoại, tìm con đường cứu nước, Mỹ là chặng dừng chân tương đối lâu của Nguyễn Tất Thành. Vào khoảng 1912 Nguyễn Tất Thành đến Mỹ, trong thời gian ở Mỹ, Người đã sống làm việc và tiếp tục học tập tại New York rồi Brooklin và Người cũng đã qua nhiều thành phố như Boston, New York, tạm trú một thời gian ngắn ở khu Harlen (nơi sinh sống của người da đen Mỹ). CuốI năm 1913 Người sang Anh, nhưng nếu theo như lá thư đề ngày 16 tháng 4 năm 1915 từ Mỹ Nguyễn Tất Thành gửi Toàn quyền Đông Dương qua lãnh sự Anh tại Sài Gòn để tìm địa chỉ cụ thể Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc thì có lẽ năm 1915 Người trở lạI Mỹ. Sau này (1966) trong lần tiếp một nhà báo Mỹ: David Dellinger, Chủ tịch Hồ Chí Minh có kể rằng: “… Tôi đã đi ở cho người ta ở Brooklin với lương tháng 40 đôla, tôi làm việc không đến nỗi vất vả lắm và tôi dùng một số thời gian rảnh rỗi để học tập và đi thăm những khu vực khác trong thành phố.” [4]. Thời gian sống và làm việc trên đất Mỹ, nhất là khu vực Harlem đã để lại cho Người nhiều ấn tượng rất sâu sắc về sự thống khổ của người Mỹ đen, đặt biệt là “hành hình kiểu Lynch” và những hoạt động đầy tội ác của đảng 3K [5,26], những cuộc bãi công của công nhân Mỹ chống chiến tranh, đòi tăng lương. Sau này (1924) các ấn tượng đó đã được thể hiện lại trong những bái báo của Người như: “Hành hình kiểu Lynch, một phương diện ít người biết đến của nền văn minh Mỹ” và “Đảng Ku – Klux – Klan” [6,206 – 312].
Những bài báo đó có giá đặc biệt: tố cáo mạnh mẽ tệ phân biệt chủng tộc dã man, và đồng thời cũng biểu lộ sự cảm thông với người da đen, “là giống người bị áp bức và bóc lột nặng nề nhất trong giống người” [7,306]. Từ sự cảm thông đó Người đã tỏ thái độ căm giận bọn người áp bức thống trị, và rồi sự căm giận đã được thể hiện bằng hành động cụ thể.
Theo như báo Caribbe (tập IX, số 1) của Mỹ thì Hồ Chí Minh đã dự đều đặn các cuộc họp của tổ chức UNIT (Universal Negro Improvement Trust - Hội tin tưởng cải thiện người da đen của thế giới) và đã hào hiệp góp tiền hưởng ứng lời kêu gọi về tài chính của Hội”. Trong một cuộc mít tinh do những người da đen tổ chức “Hồ Chí Minh đã dốc tất cả tiền trong túi của mình để ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của họ” [8,26]. Người luôn tỏ thái độ ủng hộ nhiệt tình và chân thành cuộc đấu tranh chính nghĩa của những người Mỹ da đen và luôn quan tâm đến phong trào đấu tranh của nhiều dân tộc khác, từ đó đã góp phần vào “cuộc chiến đấu cho người Mỹ, đặc biệt là người Mỹ da đen” [9, 178]. Cũng trong thời gian này, Người có điều kiện tìm hiểu về lịch sử - xã hội Mỹ, tìm hiểu cuộc Cách mạng Mỹ thế kỷ XVIII (1775 – 1783), nghiên cứu truyền thống văn hoá Mỹ, đặc biệt là tìm hiểu Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ do Th. Jefferson khởi thảo. Những tư tưởng lớn của bản Tuyên ngôn đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhận và trích dẫn nhiều lần sau này, và tên tuổi G. Washington, Th. Jefferson đã thu hút sự chú ý của Người.
Năm 1919 khi đang hoạt động ở Paris, Nguyễn Ái Quốc đã biết tới chương trình 14 điểm nổi tiếng của Tổng thống Mỹ  Wilson được lấy làm cơ sở cho hội nghị hoà bình Paris (1. 1919) sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918). Chính điểm thứ 5 của chương trình 14 điểm hứa sẽ “giải quyết rộng rãi, tự do và hoàn toàn vô tư tất cả các yêu sách về thuộc địa. Trong khi giải quyết các vấn đề chủ quyền thì phải chiếu cố đến quyền lợi của nhân dân bản xứ, nhưng cũng phải chiếu cố đến đòi hỏi hợp lý của chính phủ…”. Nội dung này thu hút sự chú ý của người thanh niên Nguyễn Ái Quốc, Người hy vọng và “chờ đợi quyền dân tộc tự quyết thiêng liêng ấy thực hiện được công nhận thật sự” [ 10, 270]. Tuy ngờ vực vào thiện chí của các nước đế quốc trong việc giải quyết vấn đề độc lập, tự do cho nhân dân các nước thuộc địa trong hội nghị của các nước thắng trận, nhưng nhân dịp này để thu hút sự chú ý của thế giới đối với vấn đề thuộc địa. Người đã thay mặt Hội những người Việt Nam – yêu nước, gửi thư đến Tổng thống Mỹ [11, 437] và gửi đến Hội nghị Versailles một bản yêu sách gồm 8 điểm của nhân dân Việt Nam [12, 435]. Rất khiêm tốn và đúng mực, bản yêu sách không trực tiếp đặt vấn đề đòi độc lập, giải phóng khỏi áp thực dân mà mơớ chỉ dừng lại ở chỗ đòi các nước thắng trận thực hiện những cải cách mà họ đã hứa trong thời kỳ chiến tranh. Tuy không được xét đến và bản thân Nguyễn Ái Quốc cũng không gặp được đại diện Mỹ để trình bày và Người cũng không nhận được một sự đáp lại nào, nhưng như trên đã đề cập, với việc đưa yêu sách đến hội nghị Versailles, lần đầu tiên vấn đề Việt Nam được đặt ra trước công luận thế giới, nó có ý nghĩa to lớn đối với nhân dân các nước thuộc địa nhân dân Việt Nam. Đánh giá những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc và tác dụng của bản yêu sách…, nhà sử học Pháp Charles Fourniau viết: “Từ ngày Nguyễn Ái Quốc gửi bản yêu sách đến Hội nghị thì Việt kiều hướng cả về Anh…Việt kiều tìm đến với Nguyễn Ái Quốc để được Anh khuyên bảo, giao nhiệm vụ… và vạch cho họ thấy cần phảI đi theo con đường nào. Vậy từ Paris, Nguyễn Ái Quốc đã gieo hạt giống cho cách mạng khắp bốn phương trời.” [13, 29]. Vì vậy bản yêu sách này đã gây được tiếng vang trong dư luận quốc tế, đặc biệt có ảnh hưởng đối với 8 vạn người Việt Nam ở Pháp sắp về nước và những người yêu nước ở Việt Nam, và cả nhân dân Pháp ở chính quốc nữa. Ngay lúc bấy giờ, tờ “Le courrier de Saigon” (“Tin tức Sài Gòn”) đã xem “Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam” của Nguyễn Ái Quốc như một “quả bom đặt giữa tất cả những người Pháp ở Đông Dương”. Cho nên, dù “không có kết quả gì hết, nhưng không thể nói những lời yêu cầu ấy là không có tác dụng, bởi vì nó đánh dấu một giai đoạn mới trong phong trào giải phóng dân tộc” [14,33]. Đồng thời qua đó Nguyễn Ái Quốc có đầy đủ cơ sở để ngờ vực lòng “cao cả’ của các nước Đồng Minh trước hết là Mỹ. Như vậy người thanh niên Nguyễn Tất Thành sang Mỹ không phải là một sự tình cờ, mà chính cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Bắc Mỹ chống ách thống trị của thực dân Anh, và tên tuổi của G. Washington, Th. Jefferson đã thu hút sự chú ý của Người. Đối chiếu với thực tế cuộc sống không có tự do của nhân dân lao động, Người đã hiểu được rõ hơn bản chất của chế độ xã hội Mỹ. Cuối năm 1920, lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc đã bày tỏ quan điểm chính trị của mình liên quan đến nước Mỹ bằng việc tham gia mít tinh ở Paris để phản đối nhà cầm quyền Mỹ kết án tử hình 2 công nhân Mỹ Sarco và Vanzetti nhằm đòi trả tự do cho họ [15,7]. Sau đó tháng 4 năm 1924 xuất hiện một bài viết đăng trên tờ Imprecator ký tên Nguyễn Ái Quốc, với nội dung lên án Mỹ đã cùng một số nước đế quốc mang danh “đồng minh” để tấn công nước Nga Xô Viết. Cùng thời gian này, Người còn viết một số bài lên án chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và tham luận tại phiên họp thứ 25 đại hội V Quốc tế cộng sản. Đặc biệt trong tác phẩm nổi tiếng: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) Nguyễn Ái Quốc đã nhiều lần lên án gay gắt sự dã man của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và tội ác man rợn của bọn 3K. Trong cuống Đường cách mệnh (1927) Người đã chỉ rằng: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai” [16,270]. Qua nghiên cứu lý luận cũng như theo dõi tình hình thực tế, Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra thực chất của chủ nghĩa Wilson chỉ là một “chiếc bánh vẽ”, là một “trò bịp bợm lớn” [17, 416]. Người đã nhận thức rõ bản chất của “chủ nghĩa Wilson” được che đậy bằng những lời lẽ mị dân về “dân chủ” và “quyền dân tộc tự quyết”, “dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc khác đã bị mê hoặc theo những lời tuyên bố rộng rãi của Wilson”.
Mặc dù không còn ảo tưởng gì vào “chủ nghĩa Wilson”, nhưng trong quá trình hoạt động của mình, Nguyễn Ái Quốc vẫn luôn có sự phân biệt rất rõ giữa cách mạng Mỹ, nhân dân tiến bộ Mỹ và chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Người luôn trân trọng những đóng góp của nhân dân Mỹ vào nền văn minh của nhân loại. Chính vì thế mà trong tác phẩm nổi tiếng Đường kách mệnh (1927) viết về đường lối cách mạng Việt Nam, Người đã nêu tóm tắt lịch sử cách mạng Mỹ, ca ngợi cuộc cách mạng 1776 vì thực chất đó là cuộc chiến tranh giải phóng và Người xem cách mạng Mỹ là một trong ba cuộc cách mạng điển hình trên thế giới để phân tích, rút kinh nghiệm cho cách mạng Việt Nam “học Mỹ mà làm cách mạng” [18, 270]. Sau này trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, nước Mỹ, nhân dân Mỹ và quan hệ Việt - Mỹ là nội dung được Hồ Chủ tịch đề cập đến nhiều lần với những ấn tượng rất đẹp. Người nói: “Tôi hiểu nhân dân Mỹ rất tôn trọng chính nghĩa và có nhiều tài năng”[19], và: “Tôi kính trọng nhân dân Mỹ. Nhân dân Mỹ là những người thông minh, là những người yêu hoà bình và dân chủ”[20,101]. Không phải ngẫu nhiên mà sau này trong tuyên ngôn độc lập của Việt Nam (2-9-1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viện dẫn những tư tưởng tiến bộ của Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ (4-7-1776), và Người cũng đã từng đánh giá:”Hoa Thịnh Đốn (1732 – 1799) đã đánh đuổi thực dân  Anh; Lincoln (1809 – 1865) đã tuyên bố giải phóng những người da đen khỏi ách nô lệ; F. Roosevelt (1882 – 1945) đã đưa Mỹ tham gia cuộc thế giới đại chiến thứ hai, góp phần đánh bại phát xít Đức, Ý, Nhật [21, 335].
III. Như vậy trong buổi đầu đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã đi qua, dừng lại ở nhiều trung tâm của các quốc gia thuộc châu Á, châu Phi, châu Âu và Bắc Mỹ. Nhưng có lẽ Người lưu lại, sống và làm việc nhiều hơn cả là Pháp, Anh, Mỹ. Từ thực tiễn đó, Người có điều kiện để quan sát hai loại quốc gia chủ yếu: các nước tư bản đế quốc phương Tây và các quốc gia lệ thuộc, các thuộc địa của phương Tây. Qua những điều tai nghe mắt thấy ở các nước thuộc địa và các nước công nghiệp hàng đầu của phương Tây. Người đã hiểu được điều bí ẩn sau những chữ “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” và rút ra những nhận xét khái quát ban đầu về mối quan hệ giữa con người, giữa các quốc gia dân tộc, từ đó cũng hình thành quan điểm cơ bản đầu tiên về nhân sinh quan, thế giới quan cách mạng… trong đó nổi bật hơn cả là quan điểm phân chia nhân loại thành hai hạng người “giống người bóc lột và giống người bị bốc lột” [22,226]. Cũng chính trong giai đoạn này. Người đã có một cái nhìn thiện cảm với cách mạng Mỹ, nhân dân Mỹ. Vì thế sau này Người luôn chú ý tìm cách mở ra con đường ngoại giao nhân dân nhằm tranh thủ sự ủng hộ của Đảng cộng sản Mỹ, của nhân dân Mỹ đối với Việt Nam trong quá trình thực hiện cuộc kháng chiến cứu nước.
NGUYEN AI QUOC AND AMERICA (1911 – 1930)

PHAM THI THU NGA

In the early periods of national salvation, NGUYEN TAT THANH had gone through and stopped in many countries in Asia, Africa, Europe and North America. Most of all, he lived and worked in France, England, U.S.A form his practical experience, he was in sympathy with American revolution and American people. Therefore, later he always paid close attention to the people diplomatic channel in order to strive to win sympathy of the Unites States of American and American people in Vietnamese anticolonial resistance movement.
CHÚ THÍCH
1.     Trần Dân Tiên (1976), Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật, Hà Nội.
2.     Phan Ngọc Liên (2000), Hồ Chí Minh trong tiến trình lịch sử dân tộc, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
3.     Phạm Văn Đồng, (1998), Những nhận thức cơ bản về Hồ Chí Minh, Báo Nhân dân.
4.     David Dellinger, (1969), Nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Liberation, tháng 10. (Bản dịch tiếng Việt lưu tại VLSQS).
5.     Christiane Pasgnel Ragenant (1970): Hồ Chí Minh, Ed. Press Universitaire Paris.
6 –7.Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1 (1995), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
8. Phan Ngọc Liên - Trịnh Vương Hồng (1972), Lịch sử nước Mỹ trong tác phẩm của Hồ Chí Minh, TCNCLS, số 5.
9. Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch (1971), Nxb Sự thật, Hà Nội.
10. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2 (1995), Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
11- 12. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1 (1995), Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
13. Charles Fourniau, Hồ Chí Minh (1970), Notre camarade, Edition sociale Paris.
14. Trần Dân Tiên (1976), Những mâu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội.
15. Dương Trung Quốc (2000), Bác Hồ và nước Mỹ, Tạp chí Xưa và nay, số 81b tháng 11.
16. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2 (1995), xuất bản lần thứ 2, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
17- 18. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2 (1995), xuất bản lần thứ 2, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
19. Hồ Chí Minh, Trả lời phỏng vấn của tạp chí Mỹ Minority of one – Bút tích, Chính trị Quốc gia, Hà Nội  tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh.
20. Lưu Văn Lợi - Nguyễn Anh Vũ (1990), Tiếp xúc bí mật Việt Nam – Hoa Kỳ trước Hội nghị Paris, Viện Quan hệ Quốc Tế.
21. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11 (1995) Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
22. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1 (1995), Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.

www.hcmussh.edu.vn/ussh/ImportFile