28/10/14

TRUNG QUỐC ĐÁNH CHIẾM HOÀNG SA CỦA VIỆT NAM & TRÁCH NHIỆM CỦA MỸ

LÊ TÙNG LÂM
                                                                       Bài đăng trên Tạp chí Hồn Việt, số tháng 9/2014                                                                                         
                                                               
                                       HOÀNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM

Text Box:  
Đại Nam nhất thống toàn đồ (1834) đã có Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam
Hoàng Sa là mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc Việt Nam. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, những bằng chứng hiện hữu đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này.
 Trong sách Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư được phổ biến vào năm 1630, Đỗ Bá đã mô tả : “Giữa biển có một dãi cát gọi là Bãi Cát Vàng dài ước chừng 400 dặm, ngang 20 dặm, chạy dài từ cửa Ðại Chiêm đến cửa Sa Vinh”[1] ngoài khơi hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày nay, cách bờ biển khoảng 135 hải lý. Bãi Cát Vàng là tên gọi bằng chữ Nôm của quần đảo Hoàng Sa.
Ngoài ra, các tư liệu về sự phát hiện và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa cũng được ghi chép trong nhiều tác phẩm nổi tiếng.
Chẳng hạn, trong Phủ biên tạp lục (1775), Lê Quý Đôn đã viết : “Xã An Vĩnh thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi gần bờ biển. Hướng Đông Bắc ngoài biển có nhiều đảo và nhiều núi linh tinh hơn 130 đỉnh…Ngày trước, họ Nguyễn thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất lấy người ở xã An Vĩnh sung vào…Họ Nguyễn còn thiết lập thêm đội Bắc Hải[2] để quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.
Đại Nam thực lục cũng ghi nhận việc họ Nguyễn cử đội Hoàng Sa “đến tháng 3 thì đi thuyền ra (Hoàng Sa), độ 3 đêm ngày thì đến bãi, tìm lượm hóa vật, đến tháng 8 thì về nộp. Lại có đội Bắc Hải, mộ người thôn Tứ Chánh thuộc Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, sai đi thuyền nhỏ đến các xứ Bắc Hải, Côn Lôn để tìm hóa vật; đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”[3]. Đây là nguồn tư liệu gốc quan trọng xác lập chủ quyền của các Chúa Nguyễn đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
Đầu thế kỉ XIX, vương triều Nguyễn xác nhận rõ ràng hơn về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Đại Nam thực lục ghi nhận rằng năm 1803, Gia Long “lấy cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngữ cửa biển Sa Kỳ (Quảng Ngãi), sai mộ dân ngoại tịch làm đội Hoàng Sa”[4]. Năm 1834, Minh Mạng sai Giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ[5]. Trên bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ đã ghi rõ ràng Hoàng Sa (số 1) và Trường Sa (số 2) là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Năm 1835, vua Minh Mạng “sai cai đội thủy quân Phạm Văn Nguyên đem lính thợ giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến (Hoàng Sa) dựng miếu. Bên tả miếu dựng bia đá, phía trước miếu xây bình phong, 10 ngày làm xong rồi về”[6].

Đại Nam thực lục viết về Đội Hoàng Sa

Những tư liệu này là chứng cứ xác thực của Nhà nước phong kiến Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không những thế, chủ quyền của Việt Nam đối với hai quân đảo này cũng được các nhà khoa học trên thế giới công nhận.
Text Box:  
Tấm bản đồ 106, có tên “Bản đồ xứ Đàng Trong” đã vẽ quần đảo Hoàng Sa cụ thể, chi tiết và chính xác
Năm 1827, Philippe Vandermaelen (1795 - 1869), nhà địa lý học, thành viên Hội Địa lý Paris, xuất bản bộ Atlas thế giới gồm 6 tập với 7 bản đồ chung về 5 châu lục. Trong tập 2 của Atlas, Việt Nam được giới thiệu thông qua các tấm bản đồ số 97, 105, 106, 110. Partie de la Cochinchine (Bản đồ xứ Đàng Trong) là tờ số 106, vẽ đường bờ biển miền Trung từ vĩ tuyến 12 đến vĩ tuyến 16. Phía ngoài khơi, Paracels (tức Hoàng Sa) được vẽ khá chi tiết và chuẩn xác trong khoảng vĩ độ từ 16 đến 17 và kinh độ từ 109 đến 111[7]. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc mang tính quốc tế về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa.
Như vậy, đến đầu thế kỷ XIX, vương triều Nguyễn được thành lập và khẳng định chủ quyền của Việt Nam một cách đầy đủ, thật sự theo đúng nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ được phương Tây thừa nhận, bản đồ phương Tây chính thức xác nhận quần đảo Paracels (Hoàng Sa) nằm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam[8].
Các tài liệu của người Pháp, như quyển Mémoire sur la Cochinchine của Jean-Baptiste Chaigneau (1769-1852) và quyển Univers, Histoire et Description de tous les peuples (xuất bản vào năm 1833), đều thừa nhận “đảo Paracels mà người Việt gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) gồm nhiều đảo san hô chằng chịt thuộc xứ Ðàng Trong cai quản, Hoàng đế Gia Long đã thân chinh vượt biển tiếp thu quần đảo vào năm 1816, chính ngài đã long trọng thượng cờ tại đó”[9].
Năm 1930, chính quyền Pháp tại Ðông Dương đã chính thức cắm cờ trên đảo và đến năm 1933 phái 3 chiếc tàu mang tên Alert, Astrobal và De Lanessan đến từng đảo một trong quần đảo Trường Sa (mà Pháp gọi là Spratley) để cắm cờ, thu nhận các đảo An Bang (Amboya Cay), Trường Sa (Spratley), Ba Bình (Itu Aba), Thị Tứ, Loại Ta[10]. Đây là những bằng chứng quan trọng về chủ quyền của Việt Nam đối với Trường Sa va Hoàng Sa thời thuộc Pháp.
Ngày 7-9-1951, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tuyên bố tại Hội nghị San Francisco (Mỹ) rằng “chủ quyền của chúng tôi trên tất các đảo Spatly (Trường Sa) và Paracels (Hoàng Sa) đã thuộc về Việt Nam từ mọi thời đại”[11]. Tuyên bố này không gặp phải bất kì một sự phản đối nào từ các nước. Nó cũng có nghĩa là các nước đã công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Ngày 13-7-1961, Tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh: “Quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, nay đặt thuộc tỉnh Quảng Nam…Một đơn vị hành chính xã bao gồm trọng quần đảo này được thành lập là lấy tên là xã Định Hải, trực thuộc quận Hòa Vang” (Quảng Nam) [12].
Như vậy, những văn kiện trên là những chứng cứ xác thật và không thể chối cãi về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Thế nhưng, ngày 19-1-1974, Trung Quốc đã đem quân xâm chiếm Hoàng Sa của Việt Nam.
                                                                                      Lê Tùng Lâm






TRUNG QUỐC ĐÁNH CHIẾM HOÀNG SA CỦA VIỆT NAM
& TRÁCH NHIỆM CỦA MỸ
                                                                                      Lê Tùng Lâm
Trường Đại học Sài Gòn

 Trung Quốc lấn chiếm Hoàng Sa trước năm 1974
Text Box:  
Bản đồ Trung Quốc trong Atlas Thế giới năm 1827
Text Box:  
Đại Thanh nhất thống toàn đồ năm 1818
Mặc dù giới cầm quyền Bắc Kinh không ngừng rêu rao Hoàng Sa và Trường Sa là của họ, nhưng họ không thể đưa ra bất cứ một chứng cứ nào. Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Trung Quốc đều xác nhận cương vực của Trung Hoa chấm dứt ở đảo Hải Nam. Thanh Sử Cảo cũng không đả động đến Hoàng Sa vàTrường
Sa. Các bản đồ chính thức do các Nhà nước phong kiến và dân quốc Trung Hoa vẽ như Hoàng dư toàn lãm đồ (1717), Đại Thanh nhất thống toàn đồ (1818), Trung Hoa Dân quốc toàn đồ v.v… đều xác định phần đất cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam và không có đất đai nào khác ở trên Biển Đông. Tất cả các bản đồ của Trung Quốc từ đầu thế kỷ XX trở về trước cũng hoàn toàn thống nhất với bản đồ phương Tây, không hề vẽ lãnh thổ cực nam của Trung Quốc vượt xuống dưới vĩ độ 18[13].
Năm 1909, Lý Chuẩn được vua Thanh cử đến quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, lúc này Hoàng Sa đã không còn là một lãnh thổ vô chủ nữa. Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình từ ít nhất là năm 1816. Mặt khác, Trong tập Atlas thế giới năm 1827 của Philippe Vandermaelen cũng không thừa nhận đều đó. Bản đồ Partie De La Chine (Bộ phận thuộc Trung Quốc) tờ số 98, trang 109, vẽ phần lãnh thổ cực nam của Trung Quốc bao gồm tỉnh Quảng Đông, đảo Hải
 
Trung Hoa Dân quốc toàn đồ, bản đồ chính thức của Trung Quốc từ 1911

Nam và ba cụm đảo ở phía đông đảo Hải Nam, chỉ giới hạn trong phạm vi phía bắc vĩ tuyến 180 B, mà không bao gồm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam[14]. Đây là chứng cứ khẳng định quần đảo Hoàng Sa không thuộc về Trung Quốc. Như vậy, các bản đồ của Nhà nước phong kiến Trung Quốc và thế giới đều thừa nhận cương vực cuối cùng của Trung Quốc là đảo Hài Nam chứ không hề có Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1935, trước những hành động của Pháp trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Hoa Dân quốc (THDQ) đã cho xuất bản một bản đồ chính thức đầu tiên về các đảo trên Biển Đông (mà họ gọi là Nam Hải). Tuy nhiên, bản đồ này chưa thể hiện “đường lưỡi bò”. Tháng 1-1948,  Bộ Nội vụ THDQ công bố bản đồ các đảo trên Nam Hải, lần này có vẽ thêm một đường hình chữ U 11 đoạn thường được gọi là “đường lưỡi bò” bởi nó giống cái lưỡi bò liếm xuống biển Đông[15]. “Đường lưỡi bò” này bao trùm cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông là các quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys),  Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) và bãi cạn Macclesfield (Trung Quốc gọi là Trung Sa). Thế nhưng, ngay từ lúc đầu, đường lưỡi bò này đã bộc lộ tính không chính xác, không ổn định, không được xác định tọa độ rõ ràng và không biểu thị là một đường biên giới quốc gia.
Năm 1946, trên tinh thần Tuyên bố Cairo và Nghị quyết Potsdam, 4 tàu chiến của THDQ đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa với cớ giải giới quân Nhật. Ngày 7-1-1947, chính phủ THDQ tuyên bố họ đã chiếm giữ quần đảo Tây Sa, nhưng thực ra mới chỉ chiếm đảo Phú Lâm (Woody Island, mà họ gọi là đảo Vĩnh Hưng). Năm 1949, THDQ  rút khỏi đảo Phú Lâm. Pháp gửi quân Pháp-Việt trở lại giữ đảo.
Sau khi thành lập (1-10-1949), nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) tiếp tục thừa nhận bản đồ 1948 của THDQ. Tuy nhiên, CHNDTH chưa yêu sách các vùng nước nằm trong “đường lưỡi bò” như các vùng nước lịch sử. Tại Hội nghị San Francisco (9-1951), các quốc gia tham gia cũng đã khước từ đề nghị trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa[16]. Trong thực tế, “đường lưỡi bò” chưa bao giờ được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Mặt khác, đại diện của CHNDTH cũng không tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trong Hội nghị Công ước Luật biển lần III[17] tại New York năm 1973. Do đó, những hành vi bí mật xâm lược trên không thể tạo nên cơ sở cho quyền chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Theo Hiệp định Genève 21-7-1954, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) quản lý quần đảo Hoàng Sa. Năm 1956, lực lượng hải quân VNCH  tiếp tục thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, đảo lớn nhất là Phú Lâm đã bị CHNDTH bí mật chiếm trước khi quân đội VNCH ra đóng giữ.
Năm 1958, Điều 1 Tuyên bố về lãnh hải của CHNDTH đã nhấn mạnh rằng: “Chiều rộng lãnh hải nước CHNDTH là 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước CHNDTH, bao gồm lục địa Trung Quốc và các đảo ven bờ của lục địa cũng như các đảo Đài Loan và xung quanh đó, quần đảo Penghu (Bành Hồ) và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc bị phân cách với đất liền và các đảo ven bờ biển của nó bởi biển cả”[18]. Như vậy, tuyên bố năm 1958 của CHNDTH cũng không thể bao gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo như “đường lưỡi bò” đã công bố của họ.
Trong thời gian 1964-1970, Hải quân Trung Quốc và Hải quân VNCH chạm súng nhiều lần trên hải phận Hoàng Sa, nhưng không đưa đến thương vong. Trong thời điểm đó, VNCH cũng thiết lập một sân bay nhỏ tại đảo Hoàng Sa. Mặc dù CHNDTH đã chiếm đóng trái phép tại hai đảo Phú Lâm và Linh Côn trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa vẫn do chính quyền VNCH nắm giữ.

2. Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa (1974) và trách nhiệm của người Mỹ
Âm mưu xâm chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc đã có từ thời THDQ nhưng nó chưa thực hiện được. Đến cuối những năm 60 của thế kỉ XX, giới cầm Bắc Kinh nhận thấy thời cơ để đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam đã đến vì:
1- Từ năm 1967, Richard Nixon – sau này là tổng thống của Mỹ - kêu gọi thừa nhận “thực tại Trung Quốc” và thực hiện đường lối lôi kéo Trung Quốc vào cộng đồng thế giới với tư cách là “một quốc gia hùng mạnh và tiến bộ chứ không phải là tâm điểm của cách mạng thế giới”[19]. Do đó, Washington bắt đầu những động thái xích lại gần với Trung Quốc.
2- Năm 1970, Đô đốc Elmo Zumwalt, cựu Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ, tuyên bố tại Guam rằng Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong chiến lược triển khai các hải đảo tiền đồn của Hạm đội 7 Mỹ. Theo nhận định của chính giới VNCH lúc đó, đây là sự trao đổi quyền lợi giữa Mỹ và Trung Quốc và là nguy cơ cho VNCH trong việc bảo vệ Hoàng Sa[20]. Rõ ràng tuyên bố trên của Mỹ là một sự nhân nhượng có toan tính của Mỹ trong chính sách đối ngoại với Trung Quốc. Sự “bỏ rơi” Hoàng Sa và Trường Sa của Mỹ đã tạo cho Bắc Kinh có cơ hội để tiếp tục thực hiện các hành động lấn chiếm ở đây.
3- Năm 1972, Richard Nixon (lúc này đã vào Nhà Trắng) cùng cố vấn Henry Kissinger và ngoại trưởng William Rogers sang thăm chính thức Trung Quốc. Ngày 28-2-1972, Mỹ và Trung Quốc đã ký Thông cáo chung Thượng Hải và xác định sự ủng hộ của Mỹ đối với CHNDTH. Đồng thời, Mỹ và Trung Quốc đưa ra tuyên bố chung phản đối "bá quyền" tại châu Á và Thái Bình Dương. Rõ ràng, chuyến viếng thăm Trung Quốc của R.Nixon làm cho những “hiểu lầm” trong quan hệ Trung-Mỹ đã được tháo bỏ. Đây là cơ sở quan trọng cho những hoạt động của Bắc Kinh trong giai đoạn sau. Năm 1973, Trung Quốc và Mỹ mở văn phòng liên lạc ở thủ đô mỗi nước mở đầu cho việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
4- Tháng 1-1973, Mỹ ký Hiệp định Paris và rút quân đội ra khỏi Miền Nam Việt Nam. Đồng thời Hạm đội 7 cũng được rút ra khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa. Trong thực tế, Mỹ “bỏ rơi” Hoàng Sa, xem việc bảo vệ quần đảo này là việc riêng của VNCH.
5- Đầu năm 1974, VNCH phải đối mặt với hàng loạt khó khăn về tài chính, quân sự khi Mĩ rút quân theo Hiệp định Paris. Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã mở nhiều cuộc tiến công ở Khu V và Nam Bộ.
Việc Mỹ “bỏ rơi” Hoàng Sa và làm ngơ trước các hành động của Trung Quốc đã tạo điều kiện cho Trung Quốc tiến tới chiếm toàn bộ Hoàng Sa vì “nếu chậm chân, họ (TQ) sẽ khó làm được điều đó sau khi Việt Nam thống nhất[21]”. Do đó, để có cớ xâm lược Hoàng Sa, ngày 11-1-1974, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố : Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ của Trung Quốc và tố cáo VNCH chiếm đóng bất hợp pháp[22]. Đồng thời, “để làm hậu thuẫn cho những lời tuyên bố vô căn cứ, Trung Quốc tung nhiều tàu đánh cá võ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa và đổ quân giả dạng ngư phủ lên các đảo không có lực lượng quân đội VNCH đóng” [23].
Sau đó, Đêm 17-1-1974, Chu Ân Lai cùng với Diệp Kiếm Anh viết báo cáo gửi Mao Trạch Đông đề nghị phái quân ra quần đảo Hoàng Sa[24]. Mao Trạch Đông phê : “Đồng ý ! Trận này không thể không đánh”. Mao Trạch Đông giao cho Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình trực tiếp chỉ huy trận đánh tại quần đảo Hoàng Sa[25]. Như vậy từ đầu, giới cầm quyền Bắc Kinh đã thống nhất với nhau về mục tiêu trong việc xâm chiếm Hoàng Sa.
Ngày 18-1-1974, Chu Ân Lai triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc để thảo luận tình hình Hoàng Sa và lập ra ban chuyên trách năm người phụ trách kế hoạch đánh Hoàng Sa - mà phía Trung Quốc gọi là “Cuộc phản kích Tây Sa” để tuyên truyền trong nước và che mắt dư luận quốc tế. Các lãnh đạo cấp cao gồm Diệp Kiếm Anh - Chủ nhiệm Ban chuyên trách, cùng Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Đặng Tiểu Bình và Trần Tích Liên đã nghe Tô Chấn Hoa, Phó Tư lệnh Hải quân, báo cáo tình hình và đề nghị tấn công[26]. Ban chuyên trách công bố bản hướng dẫn nhằm đánh lại các tuần dương hạm của VNCH. Căn cứ vào bản hướng dẫn này, hải quân Trung Quốc lập kế hoạch chuẩn bị cho chiến dịch[27].
Sáng ngày 19-1-1974, hồi 10 giờ 20, một hộ tống hạm Trung Quốc thuộc loại Kronstadt bắn vào khu trục hạm Trần Khánh Dư mang số HQ-4 của VNCH. Để tự vệ, các chiến hạm VNCH đã phản pháo và gây hư hại cho hộ tống hạm Trung Quốc. Cuộc giao tranh gây thiệt hại về nhân mạng và vật chất cho cả đôi bên[28]. Trong khi chiến sự đang diễn ra tại Hoàng Sa, Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và Tô Chấn Hoa báo cáo lên Mao Trạch Đông đề nghị cho phép quân đội Trung Quốc chiếm tất cả các đảo do VNCH kiểm soát. Mao đã chấp thuận đề nghị này[29]. Như vậy, hành động xâm lược trắng trợn của Trung Quốc đã đánh tan luận điểm xuyên tạc về việc “bảo vệ chủ quyền” – cái mà Trung Quốc chưa từng có tại Hoàng Sa.

Khu trục hạm HQ-4 Trần Khánh Dư

Không chấp nhận việc Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra Tuyên bố khẳng định chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc, mọi tranh chấp về biên giới và lãnh thổ giữa các nước có liên quan phải được giải quyết bằng thương lượng trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt.
Trong khi đó,  VNCH tìm cách đánh bại và giành lại chủ quyền từ Trung Quốc bằng hai con đường như sau:
Đấu tranh bằng con đường ngoại giao
Trước hành động ngang nhiên xâm lược của Trung Quốc, ngay trong ngày 19-1-1974, Bộ Ngoại giao VNCH đã ra Tuyên bố một mặt khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, mặt khác nêu rõ “các hành động quân sự của Trung Cộng là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lãnh thổ VNCH, và một lần nữa vạch trần chánh sách bành trướng đế quốc mà Trung Cộng liên tục theo đuổi”[30].
 Ngày 20-1-1974, VNCH đã chính thức gửi thư đến Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc (HĐBA.LHQ), yêu cầu triệu tập cuộc họp khẩn của Hội đồng Bảo an để xem xét hành động xâm lược của Trung Quốc “nhằm thực hiện các hành động khẩn cấp để sửa chữa tình hình và chấm dứt việc xâm lược” [31]. Thế nhưng, thái độ của Mỹ đã làm cản trở quá trình đấu tranh của VNCH.
Trước diễn biến phức tạp này, cũng trong ngày 20-1-1974, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn - Graham Martin đã gởi một bức điện về cho Bộ Ngoại giao Mỹ và nêu rõ rằng “Trung Quốc không đơn giản tăng viện lực lượng ở Hoàng Sa mà đang tiến hành một kế hoạch chuẩn bị kỹ lưỡng nhằm chiếm quần đảo” [32]. Do đó, Martin đã đề nghị Washington hãy cân nhắc gây sức ép lên Bắc Kinh và đẩy mạnh các bước đi trong lĩnh vực ngoại giao.
Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Mỹ khi đó có vẻ muốn bảo vệ mối quan hệ với Trung Quốc hơn là với một đồng minh đã hết thời. Các nhà ngoại giao Mỹ tại Hội đồng Bảo an tỏ ra bi quan về việc đưa vấn đề ra Hội đồng Bảo an bởi Trung Quốc là một thành viên thường trực của cơ quan này trong khi VNCH chỉ là quan sát viên của LHQ nên không chấp nhận để VNCH đưa vần đề Hoàng Sa ra Liên Hiệp Quốc.
Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc John A. Scali nhận định rằng việc “đưa vấn đề Hoàng Sa ra Hội đồng Bảo an sẽ gây ra rắc rối rõ ràng và nghiêm trọng cho chúng ta. Phía Việt Nam có vẻ như không có cơ hội đạt được một quyết định thuận lợi từ Hội đồng Bảo an và có ít triển vọng đạt được bất kỳ lợi thế nào” [33]. Do đó, John A. Scali cho rằng “tình thế của chúng ta sẽ cực kỳ bất tiện ngay cả khi Việt Nam có quyền hợp pháp hiển nhiên với quần đảo tranh chấp. Trong tình cảnh hiện tại, chúng ta sẽ tìm cách trì hoãn tiến trình của Hội đồng Bảo an. Điều này sẽ giúp phái bộ VNCH có thời gian thăm dò trực tiếp các thành viên Hội đồng Bảo an và báo cáo kết quả về cho Sài Gòn”. Rõ ràng, người Mỹ đã không tích cực ủng hộ cho giải pháp ngoại giao của VNCH và còn trì hoãn nó. Thái độ này của Mỹ đã làm cho con đường đấu tranh ngoại giao của VNCH gần như rơi vào bế tắc. Trước những khó khăn đó, VNCH đã quyết định gửi thư đến Chủ tịch HĐBA Liên Hiệp Quốc Facio rút lại yêu cầu về việc triệu tập cuộc họp khẩn cấp của Hội đồng Bảo an. Ngày 25-1, Chủ tịch Facio thông báo Hội đồng Bảo an sẽ không nhóm họp để thảo luận vấn đề Hoàng Sa bởi VNCH đã rút lại yêu cầu.
Nhận định về vấn đề này, Chủ tịch Facio cũng nhận thấy rằng “Mỹ không thúc đẩy một cuộc họp của Hội đồng Bảo an và ông có cảm giác Mỹ không thực sự muốn có cuộc họp[34]. Các hồ sơ ngoại giao của Mỹ được giải mật trong thời gian qua đã gợi ý rằng “Washington đã chủ động bỏ rơi và gây sức ép buộc VNCH không được “manh động” trong vấn đề Hoàng Sa”[35]. Đồng thời, Washington và các đồng minh đã cố gắng thuyết phục VNCH không đưa vấn đề Hoàng Sa ra HĐBALHQ[36]. Dưới áp lực của Mĩ, VNCH đành phải từ bỏ ý định đưa vấn đề Hoàng Sa lên Liên Hiệp Quốc. Nhận định về thái độ này của Mỹ, một đại diện ngoại giao Liên Xô tại Liên Hiệp Quốc mô tả rằng Washington đang bối rối trong việc lựa chọn ủng hộ “đồng minh cũ và người bạn mới” [37]. Như vậy, con đường đấu tranh bằng ngoại giao để buộc Trung Quốc dừng các hành động xâm lược Việt Nam đã bị chính người Mỹ - đồng minh “hôm qua” của VNCH - phá hoại.
Kế hoạch phản công bằng quân sự
Ngay sau khi Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc đã gặp Đại sứ Mỹ Graham Martin để thảo luận về “tình hình rất nghiêm trọng” tại quần đảo Hoàng Sa. Theo đó, VNCH đang chuẩn bị đánh Trung Quốc bằng không quân tại Hoàng Sa.
Sau khi giải pháp ngoại giao thất bại, ngày 14-2-1974, chính phủ VNCH đã ra Tuyên cáo và nêu rõ “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ VNCH. Chánh phủ và nhân dân VNCH không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo ấy[38]. Do đó, một kế hoạch phản công được chuẩn bị công phu với khả năng chiến thắng là 100% đã được vạch ra. Theo đó, VNCH sẽ cho máy bay tấn công tàu Trung Quốc vì “họ đi ra Hoàng Sa của mình là bằng tàu thôi, mình mà diệt hạm đội này là họ cụt ngòi”. Máy bay sử dụng cho chiến dịch là loại F-5 và F-5E, loại có bình xăng phụ[39]. Đây là loại máy bay phát huy tốt trong điều kiện chiến đấu trên biển so với máy bay của Trung Quốc. Theo phi công Nguyễn Thành Trung, máy bay của VNCH sẽ “cất cánh từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa, tụi tôi thừa sức đánh với họ trong 20 phút, thừa dầu bay về Đà Nẵng. Cự ly từ Hải Nam ra Hoàng Sa xa hơn Đà Nẵng ra Hoàng Sa chút xíu, nhưng Không quân Trung Quốc chỉ có MiG-21, ra tới Hoàng Sa thì không còn dầu để quay về. Thế nên, về không quân thì tụi tôi chiếm ưu thế, Trung Quốc không có gì”[40].
Trong cuộc họp bàn phương thức tác chiến tại Đà Nẵng, VNCH cũng xác định “có 40 tàu Trung Quốc đang có mặt tại Hoàng Sa. Do đó, nhiệm vụ của các phi đoàn phải làm sạch, nhấn hết xuống biển và tôi (Nguyễn Thành Trung-ND) đảm bảo là 100% sau một ngày tất cả 40 chiếc tàu đó không còn chiếc nào sống sót” [41]. Cũng theo Nguyễn Thành Trung, việc tái chiếm Hoàng Sa là hoàn toàn khả thi vì với sức mạnh áp đảo của không quân bao gồm 120 chiếc F-5 và F-5E đang chờ lệnh ở Đà Nẵng, mỗi máy bay đủ sức không chiến tại Hoàng Sa trong 20 phút thì chỉ cần sau 1 ngày là đánh chìm toàn bộ tàu Trung Quốc ở Hoàng Sa. Thế nhưng, kế hoạch này đã không được thực hiện do những phản ứng từ phía Mỹ.
Ngày 25-1-1974 và ngày 31-1-1974, H.Kissinger đã xác định “lập trường của Mỹ là không đứng về bên nào trong các tuyên bố chủ quyền tại đây và Mỹ sẽ tránh xa những tranh chấp ở Hoàng Sa và Trường Sa”[42]. Đồng thời, Mỹ đã điều Hạm đội 7 Thái Bình Dương ra khỏi khu vực Hoàng Sa.  Rõ ràng, lập trường này đã minh chứng cho sự thay đổi trong chính sách đối với VNCH của Washington. Giải thích cho thái độ này, Washington cho rằng “Quốc hội Mỹ đã ra luật cấm Chính phủ tiếp tục hỗ trợ quân sự cho VNCH nên họ không thể nào giúp VNCH bảo vệ Hoàng Sa trước sự tấn công của Trung Quốc[43]. Theo lời Nguyễn Thành Trung, việc này không được thực hiện do "Mỹ đã cảnh báo Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không được hành động"[44]. Lúc bấy giờ, Mỹ đã làm lành với Trung Quốc và chấp nhận làm ngơ để Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa. Do đó, cuộc phản công bằng không quân của VNCH đã không diễn ra và Trung Quốc vẫn chiếm giữ trái phép Hoàng Sa của Việt Nam đến ngày hôm nay.
Như vậy, qua biến cố lịch sử Hoàng Sa năm 1974, chúng ta phải nhìn nhận một thực tế là Mĩ đã “bỏ rơi” Hoàng Sa và chấp nhận “làm ngơ” cho các hoạt động phi pháp của Trung Quốc tại đây. Không những thế, Mỹ còn gây sức ép về ngoại giao và cản trở về quân sự để không cho VNCH phản kháng lại đối với Trung Quốc. Sự kiện này đã minh chứng có sự bắt tay của Mỹ với Trung Quốc. Người Mỹ đã “bán đứng” đồng minh cũ để đổi lấy đồng minh mới và chính sự thực dụng này của Mỹ đã góp phần làm cho tình hình Biển Đông không ổn định.
Trận gió mà Mỹ gieo năm 1974 đã bị Trung Quốc lợi dụng, thổi bùng lên thành cơn bão khiến Mỹ phải gặt 40 năm sau.



[1] Bửu Cẩm và những người khác (1962), Hồng Đức bản đồ, Bộ Giáo dục Quốc gia xuất bản, Sài Gòn, tr.94
[2] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lúc, Lê Xuân Giáo dịch, Phụ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa xuất bản, Sài Gòn, 1972, tr.210-212.
[3] Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Bản dịch của Viện Sử học, tập 1, NXB KHXH, Hà Nội, 1991, tr.164.
[4] Nguyễn Đình Đầu (2014), Chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông và Hoàng Sa-Trường Sa, NXB ĐHQG TPHCM, tr.9.
[5] Nguyễn Đình Đầu (2014), sđd, tr.10.
[6] Nguyễn Đình Đầu (2014), sđd, tr.10.
[7] (GDVN) - Thêm bằng chứng từ bộ Atlas thế giới, Bruxelles - 1827 khẳng định chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
[8] (GDVN) - Thêm bằng chứng từ bộ Atlas thế giới, tlđd..
[10] Journal Officiel de L'Indochine ngày 25 tháng 9 năm 1933, tr.7784.
[11] Nguyễn Đình Đầu (2014), sđd, tr.14-15.
[12] Nguyễn Đình Đầu (2014), sđd, tr.15.
[13] (GDVN) - Thêm bằng chứng từ bộ Atlas thế giới, tlđd.
[14] Nguồn: http://m.tuoitre.vn/tin-tuc/Tuoi-Tre-Cuoi-tuan/1059668529,Mot-tai-lieu-quy-chung-minh-chu-quyen-cua-Viet-Nam-doi-voi-quan-dao-Hoang-Sa.ttm
[15] Chi Kin Lo, China’s policy towards territorial disputes, tr. 43.
[16] Monique Chemillier- Gendreau, Sovereignty over Paracel and Spratly Islands, Kluwer Law International, 2000, 208, tr. 41.
[17] Yann Huei Song, china's "historic waters"in the south china sea:an analysis from taiwan, American Asian Review Vol. 12, N.. 4, Winter, 1994 (tr. 83-101)
[18] Daniel J. Dzurek, The Spratly Islands Dispute:Who's On First? International Boundaries Research Unit, Volume 2 Number 1, tr. 14.
[19] R. Nixon (1967), Asia After Vietnam, in Forgein Affairs, October, p 122.
[20] Hải Chiến Hoàng Sa, Bão biển Đệ Nhị Hải Sư, tác giả xuất bản, Australia, 1989, trang 101.
[21] Châu Minh Linh, Trung Quốc nuốt dần Hoàng Sa, nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140105/hai-chien-hoang-sa-40-nam-nhin-lai-6-1-2014.aspx.
[22]  Tân Hoa Xã: Mao Trạch Đông chỉ đạo đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, Báo Giáo dục Việt Nam.
[23] Châu Minh Linh, Trung Quốc nuốt dần Hoàng Sa, tlđd.
[24]  Tân Hoa Xã: Mao Trạch Đông chỉ đạo đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, Báo Giáo dục Việt Nam.
[25]  Tân Hoa Xã: Mao Trạch Đông chỉ đạo đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, Báo Giáo dục Việt Nam.
[26] Châu Minh Linh, Trung Quốc nuốt dần Hoàng Sa, tlđd.
[27] Quan hệ Trung Việt trước trận Hoàng Sa, Lý Hiểu Bình, BBC.
[28] Tuyên cáo của Bộ Ngoại giao VNCH ngày 19.1.1974,  Thanh Niên Online (giới thiệu), Nguồn:  http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140108/hai-chien-hoang-sa-tuyen-cao-cua-bo-ngoai-giao-vnch-ngay-19-1-1974.aspx
[29]  Quan hệ Trung Việt trước trận Hoàng Sa, Lý Hiểu Bình, BBC
[30] Tuyên cáo của Bộ Ngoại giao VNCH ngày 19.1.1974,  Thanh Niên Online (giới thiệu), Nguồn:  http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140108/hai-chien-hoang-sa-tuyen-cao-cua-bo-ngoai-giao-vnch-ngay-19-1-1974.aspx
[31] Sơn Duân (2014), Hoàng Sa ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140108/ho-so-ngoai-giao-my-ve-hai-chien-hoang-sa-ky-2-hoang-sa-o-hoi-dong-bao-an-lhq.aspx.
[32] Sơn Duân (2014), Bàn cờ nước lớn, tlđd
[33] Sơn Duân (2014), Hoàng Sa ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, tlđd.
[34] Sơn Duân (2014), Hoàng Sa ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, tlđd.
[35] Sơn Duân (2014), Bàn cờ nước lớn, Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140106/ho-so-ngoai-giao-my-ve-hai-chien-hoang-sa-ky-1-ban-co-nuoc-lon.aspx.
[36] Sơn Duân (2014), Bàn cờ nước lớn, tlđd.
[37] Sơn Duân (2014), Bàn cờ nước lớn, tlđd

[38] Tuyên cáo ngày 14.2.1974 của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Thanh Niên online (giới thiệu), Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140108/hai-chien-hoang-sa-tuyen-cao-ngay-14-2-1974-cua-chinh-phu-viet-nam-cong-hoa.aspx.

[39] Đỗ Hùng - Tấn Tú (2014), Không quân Việt Nam Cộng hòa lên kế hoạch giành lại Hoàng Sa, tlđd
[40] Đỗ Hùng - Tấn Tú (2014), Không quân Việt Nam Cộng hòa lên kế hoạch giành lại Hoàng Sa, tlđd.
[41] Đỗ Hùng - Tấn Tú (2014), Không quân Việt Nam Cộng hòa lên kế hoạch giành lại Hoàng Sa, tlđd.
[42] Sơn Duân (2014), Bàn cờ nước lớn, tlđd.
[43] Hoàng Sa: Góc nhìn từ dinh ông Thiệu, BBC online, 17 tháng 1, 2014.
[44] Đỗ Hùng - Tấn Tú (2014), Không quân Việt Nam Cộng hòa lên kế hoạch giành lại Hoàng Sa, tlđd.

VẤN ĐỀ LƯƠNG THỰC TRONG CHÍNH SÁCH CỦA NHẬT BẢN Ở NAM KÌ (1940 – 1945)


                                                                                                                        Lê Tùng Lâm·
Bài đăng trong Sách chuyên khảo: Lịch sử Thế giới: Một cách tiếp cận
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tháng 9.1940, Nhật Bản chính thức xâm chiếm Việt Nam. Từ đó, nhân dân Việt Nam phải chịu cảnh “một cổ hai tròng” dưới ách thống trị của Pháp - Nhật. Sự thống trị tàn bạo của Nhật Bản đã làm cho hơn 2 triệu đồng bào miền Bắc Việt Nam chết đói cuối năm 1944 – đầu năm 1945. Vậy mục đích của Nhật Bản khi nhảy vào Việt Nam là gì? Chính sách của Nhật Bản đối với Nam Kì như thế nào? Hậu quả của những chính sách đó ra sao?
Nhiều nhà sử học cho rằng “việc buôn bán lương thực của Nhật Bản ở Việt Nam (Đông Dương) - một nguyên nhân chủ yếu đưa tới nạn đói khủng khiếp này”[9, 364]. Không thể phủ nhận nguyên nhân của nạn đói năm 1944 – 1945 ở Việt Nam là xuất phát từ chính sách bóc lột của đế quốc Pháp-Nhật. Đã 65 năm trôi qua, tội ác của Nhật Bản vẫn còn đó. Chúng ta không nên cứ ôm mãi quá khứ nhưng cũng không được phép quên quá khứ đau đớn này. Do đó, việc tìm hiểu, lý giải rõ chính sách của Nhật Bản về vấn đề lương thực ở Nam Kì là điều cần thiết.

II. NỘI DUNG
1. Nhật Bản xâm chiếm Đông Dương
Năm 1937, Nhật Bản mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc. Từ năm 1939, Nhật Bản cũng đẩy mạnh quá trình tiến xuống miền Nam châu Á. Tháng 2.1939, Nhật Bản chiếm đảo Hải Nam (Trung Quốc) và chiếm luôn quần đảo Hoàng Sa (Việt Nam) vào tháng 3.1939. Đây là bước khởi đầu cho quá trình mở rộng xâm lược xuống vùng Đông Nam Á – đầu tiên là Đông Dương vì đây là một khu vực có vị trí rất quan trọng về mặt chiến lược. Nếu chiếm được Đông Dương, Nhật Bản sẽ đạt được hai mục tiêu:
- Thứ nhất: Ngăn chặn sự tiếp viện từ bên ngoài cho Trung Quốc bằng con đường từ Hải Phòng tới Côn Minh và nếu có thể, dùng con đường này để xâm nhập miền Nam Trung Quốc.
- Thứ hai: Nhật Bản có thể loại bỏ tất cả các cường quốc phương Tây ra khỏi thuộc địa của họ ở Đông Nam Á để thiết lập “Khu thịnh vượng chung Đại Đông Á”[1, 225].
Như vậy, việc chiếm được Đông Dương sẽ có vai trò rất quan trọng trong việc thôn tính toàn bộ Trung Quốc cũng như để thực hiện kế hoạch thiết lập “Khu thịnh vượng chung Đại Đông Á” là một vùng rộng lớn “bao gồm Đông Dương và Indonesia (quần đảo Nam Dương-ND) thuộc Hà Lan” [7, 137] của Nhật Bản.
Để thực hiện kế hoạch này, ngày 1.8.1940, Bộ Tham mưu Hải quân Nhật Bản công bố tài liệu “Nghiên cứu những chính sách đối với Đông Dương” đã nêu lên 3 điều khiến Nhật Bản phải nhanh tay làm chủ Đông Dương:
- Làm căn cứ tiến hành đánh chiếm Miến Điện và Mã Lai.
- Đóng giữ Cam Ranh – cảng quân sự vào loại tốt nhất thế giới, nằm giữa đường đi Singapore đến Hồng Kông và cũng có vị trí như vậy từ Biển Đông đến Bangkok, đến Manila, đến các cảng ở Sarawak và Bắc Borneo.
- Thuận lợi cho việc tập trung quân nhanh chóng chuyển đến mặt trận Thái Bình Dương một khi chiến tranh nổ ra [9, 367-368].
Nhằm đẩy nhanh hơn tiến trình xâm chiếm toàn bộ Đông Nam Á, ngày 2.8.1940 Nhật gởi cho Toàn quyền Đông Dương – Đô đốc Jean Decoux một yêu cầu tối thiểu về việc di chuyển những nhóm người Nhật ở Bắc Đông Dương và tự do về bầu trời hàng không.
Ngày 30.8.1940, Đại diện cho chính phủ Vichy ở Nhật là Arsène Henry và Matsouka – Bộ trưởng Ngoại giao của Nhật đã ký kết Hiệp ước về việc bảo vệ chủ quyền Pháp ở Đông Dương với nội dung:
- Chính phủ Nhật cam kết tôn trọng và nhìn nhận chủ quyền của Pháp trên toàn cõi Đông Dương.
- Chính phủ Pháp chấp nhận cho quân đội Nhật tạm đóng ở Bắc Kỳ để sớm giải quyết vấn đề Trung Quốc.
- Hai bộ tư lệnh Pháp và Nhật họp tại Hà Nội sẽ ký một thỏa ước quân sự ấn định thể thức thi hành thỏa hiệp chính trị [1].
Hiệp ước này đã đánh dấu sự nhượng bộ của thực dân Pháp trước Nhật Bản và cũng mở đầu cho quá trình hợp tác Pháp-Nhật tại Đông Dương. Sở dĩ chính quyền Vichy chấp nhận điều kiện đó của Nhật vì Œ Đông Dương là cửa sổ bên ngoài của chính phủ Tưởng Giới Thạch khi rút về Trùng Khánh, là chiếc chìa khóa chiến lược để đi vào toàn bộ vùng Đông Nam Á […]. Sự riệu rã đột ngột của chế độ thực dân Pháp do sự sụp đổ về quân sự và chính trị vào tháng 6.1940 ở chính quốc [3, 51].
Trong khi đó, ở Đông Dương, Jean Decoux vẫn kiên quyết không chấp nhận những yêu cầu của Nhật Bản với lý do: chưa nhận được chỉ thị từ chính phủ Vichy. Trước sự cứng rắn của Toàn quyền Decoux, đúng 23 giờ ngày 22.9.1940, quân Nhật từ miền Nam Trung Quốc tấn công vào các đồn binh Pháp ở Bắc Kỳ. Quá thất vọng trước sự lưỡng lự của Pháp cho họ tự do đi qua thuộc địa, những chỉ huy địa phương của Nhật đã nhanh chóng xua quân tràn vào hai đồn binh ở Lạng Sơn và Đồng Đăng đánh bại lực lượng hỗn hợp Pháp – Việt trong vài trận đánh ác liệt nhất mà quân Nhật tham gia tại Việt Nam. Sự thất thủ của Đồng Đăng và Lạng Sơn đã cho chính quyền Pháp cả ở thuộc địa và lẫn chính quốc thấy rằng, bất chấp những tuyên bố mạnh miệng, họ vẫn không thể chống lại sức mạnh của quân Nhật. Cộng tác và thỏa hiệp là lựa chọn thực tế duy nhất nếu Pháp muốn duy trì quyền kiểm soát Đông Dương [5, 49]. Sự kiện này được Hồ Chí Minh giải thích như sau: “Người Nhật trở thành chủ nhân đích thực. Người Pháp trở thành một dạng nô lệ được tôn trọng. Và người dân Đông Dương phải chịu cảnh một cổ hai tròng – làm nô lệ không chỉ cho người Nhật mà còn là nô lệ của nô lệ”[5, 51].
Như vậy, sau thắng lợi ở Lạng Sơn, Đồng Đăng, phát xít Nhật đã chính thức nhảy vào Đông Dương. Từ đây, nhân dân Việt Nam phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”  dưới sự thống trị của Pháp - Nhật. Mục tiêu thật sự của Nhật khi nhảy vào Đông Dương là gì?

2. Vấn đề lương thực trong chính sách của Nhật ở Nam Kì  từ 1941 – 1945
Trong quá trình xâm lược xuống Đông Nam Á, nỗi bận tâm lớn nhất của giới cầm quyền Nhật Bản chính là nguồn lương thực để phục vụ cho chiến tranh. Ngay sau khi độc chiếm Việt Nam, Nhật thực hiện triệt để chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, nhằm cướp đoạt đến cùng sức người, sức của, của nhân dân ta trên tất cả các hoạt động kinh tế xã hội” [10, 357] để phục vụ cho các hoạt động quân sự của họ.
Tháng 1.1941, Nhật Bản yêu cầu Toàn quyền Decoux ký thỏa thuận: “xuất 100 tấn gạo từ Sài Gòn sang Nhật và trong 1 năm vận chuyển 1 triệu tấn gạo cho quân đội Nhật, bao gồm số gạo cung cấp cho hàng chục vạn quân Nhật đang đóng ở Đông Dương”[13, 178].
Tháng 7.1941, Hiệp định mới “Hoạch định phòng thủ chung Đông Dương” (Darlan-Kato) được ký kết. Theo đó, Pháp cho Nhật được quyền đóng quân và sử dụng các căn cứ, các hệ thống giao thông tại phía Nam Đông Dương, từ đó, vài tháng sau họ sẽ hành quân chống lại đế quốc Anh [11, 35]. Để thực hiện kế hoạch này, Tư lệnh Trưởng quân đội Nhật Bản – Terauchi kéo quân vào Nam Việt Nam mà không gặp phải kháng cự nào. Đến tháng 11.1941, đã có khoảng 80.000 quân Nhật (trong tổng số 100.000 quân Nhật ở cả Bắc và Nam Kì) ở vùng này [13,179]. Rõ ràng, việc có đến 80% quân đội Nhật ở Việt Nam đóng tại Nam Kì đã nói lên được vai trò quan trọng của khu vực này trong chính sách của Nhật Bản.
Ngay khi vào miền Nam, “quân đội Nhật giành quyền kiểm soát các sân bay và hải cảng, bao gồm khu vực xung quanh vịnh Cam Ranh và các sân bay quanh Sài Gòn. Nhật sử dụng căn cứ Đông Dương để hậu thuẫn cho cuộc tấn công mở rộng Đế chế Mặt Trời mọc xuống Đông Nam Á” [5, 50].
Như vậy, từ năm 1941, Nam Kì trở thành căn cứ xuất phát của quân Nhật đi đánh chiếm xuống vùng Đông Nam Á. Để đảm bảo cho thắng lợi quân sự, Nhật Bản đã đẩy mạnh việc buộc thực dân Pháp phải cung cấp nguồn lương thực cho quân Nhật. Gạo Việt Nam được sử dụng để nuôi quân Nhật và xuất khẩu sang đảo quốc này. Gạo và ngô còn được dùng để chưng cất thành cồn bù vào sự thiếu hụt xăng dầu [5, 53].
Tác giả Futura Motoo cũng cho rằng “tài nguyên quan trọng nhất mà Nhật trông đợi ở Đông Dương là gạo, việc nhập khẩu gạo từ Đông Dương sang nước Nhật trong tổng lượng nhập khẩu năm 1940 là 25,9%, năm 1941 là 25,2%, năm 1942 là 37%, năm 1943 là 56,3% và chiếm tỉ lệ cao nhất trong thời kì có thể vận chuyển bằng tàu biển […]. Gạo Đông Dương được cấp thêm cả cho quân đội Nhật triển khai ở khu vực thiếu lương thực” [6, 117]. Do đó, nguồn lương thực của Việt Nam là mục tiêu quan trọng nhất trong cuộc xâm lược cũng như sự tồn tại của Nhật Bản.
Ngày 9.12.1941, Pháp – Nhật đã ký kết “Hiệp ước phòng thủ chung”, thừa nhận sự chiếm đóng của Nhật trên toàn Đông Dương” […]. Riêng về gạo, Pháp phải nộp cho Nhật năm 1941 là 585.000 tấn, năm 1942 là 973.000 tấn, năm 1943 là 1.023.000 tấn, năm 1944 là 900.000 tấn [13, 177]. Những chính sách này của Nhật đã được cụ thể thành các hiệp định sau:
- Hiệp định ngày 18.7.1942 (được ký kết tại Sài Gòn): Theo đó, “chính phủ Liên bang Đông Dương cam kết giao cho chính phủ Nhật Bản 1.050.000 tấn gạo và tấm trước ngày 31.10.1942 và 45.000 tấn bột gạo trắng vào trước ngày 31.12.1942. […] nhưng không bao gồm số dư nợ của đợt giao 30.000 tấn dự kiến vào tháng 12.1941, được mang sang tháng 1.1942 lên tới khoảng 24.000 tấn. Như vậy, số gạo xuất cho Nhật trong năm 1942 sẽ là 1.074.000 tấn” [15, 585].
          -  Hiệp định ngày 25.1.1943 với nội dung: “chính phủ Đông Dương cam kết giao nộp cho chính phủ Nhật Bản 1.050.000 tấn gạo và tấm cùng 66.000 tấn bột gạo trắng trước ngày 31.12. Số kết toán của hạn mức gạo, tấm phải nộp năm 1942 chưa nộp tính đến 31.12.1942 lên đến 75.904 tấn phải được giao nộp vào năm 1943, không nằm trong hạn mức 1.050.000 tấn”. Như vậy, khối lượng toàn bộ số gạo và tấm phải xuất lên đến 1.125.904 tấn [15, 586].
          -  Hiệp định ngày 5.1.1944 (được ký tại Sài Gòn) bao gồm các điều khoản chủ yếu: “chính phủ Đông Dương cam kết giao nộp cho chính phủ Nhật 900.000 tấn gạo và tấm. Tuy nhiên, chính phủ Đông Dương cam kết sẽ giao tối thiểu một khối lượng gạo 585.000 tấn gồm các loại 1-2-3 (tức loại 25%, 40% và 50% tấm) và một khối lượng tối đa gồm: 135.000 tấn gạo trắng có chất lượng bằng hay hơn loại gạo tròn và dài 20% tấm; 135.000 tấn gạo cargo (gạo không đóng bao); 45.000 tấn tấm” [15, 587].
Như vậy, lương thực của Đông Dương chiếm giữ một vai trò rất quan trọng trong chính sách xâm lược, mở rộng lãnh thổ của Nhật Bản. Gạo của Việt Nam không chỉ cung cấp cho quân đội mà còn cung cấp cho cả nước Nhật. Tuy nhiên, đây là số lượng gạo quá lớn so với sức cung cấp của Đông Dương. Do đó, thường thực dân Pháp không cung cấp đủ số lượng cho Nhật. Theo Đào Phiếu, số lượng gạo Việt Nam cung cấp cho Nhật như sau:
Năm
Tổng số yêu cầu (tấn)
Tổng số xuất cảng cho Nhật (tấn)
1940
Không rõ
408.000 tấn
1941
700. 000 tấn
585. 000 tấn
1942
1.074. 000 tấn
973. 000 tấn
1943
1.125. 000 tấn
1.023.471 tấn
1944
900. 000 tấn
498.525 tấn
1945
Không rõ
44.807 tấn
Nguồn: [10, 359].
Theo bảng số liệu trên, năm 1941, số lượng gạo Việt Nam cung cấp cho Nhật đạt 83,6%; năm 1942 đạt 90,6%; năm 1943 đạt 90,9%; năm 1944 đạt 55,4%. Rõ ràng, số lượng gạo Việt Nam cung cấp cho Nhật nhiều nhất là hai năm 1942, 1943. Sang năm 1944, tình hình mặt trận Thái Bình Dương có nhiều thay đổi, con đường vận chuyển trên biển của Nhật bị cắt đứt. Do đó, số lượng gạo xuất sang Nhật bị giảm sút đáng kể.
Cùng với gạo, ngô là nguồn lương thực quan trọng cũng bắt buộc phải xuất khẩu sang Nhật Bản:
Năm 1941, xuất cảng 124.923 tấn
Năm 1942, xuất cảng 98.700 tấn (chiếm 46% tổng sản lượng của Việt Nam)
Năm 1944, xuất cảng 18.263 tấn (chiếm 45% tổng sản lượng của Việt Nam)
Năm 1945, xuất cảng 12.134 tấn (chiếm 9% tổng sản lượng của Việt Nam)[10, 360]. Vậy là, gạo đã bị đem đi xuất khẩu, nhân dân Việt Nam ăn không đủ no, nay lại phải xuất khẩu ngô. Do đó, đời sống nhân ngày càng thêm cơ cực.
Bên cạnh gạo, ngô, Nhật Bản còn tăng cường vơ vét các loại ngũ cốc. Đông Dương cũng là nơi cung cấp ngũ cốc chính cho Nhật. Trong những năm 1940 – 1945, Đông Dương xuất khẩu sang Nhật một lượng ngũ cốc (ngoài gạo) như sau:
- Năm 1940: 149.000 tấn (chiếm 55,4% số ngũ cốc nhập vào Nhật)
- Năm 1941: 135.000 tấn (chiếm 50,6% số ngũ cốc nhập vào Nhật)
- Năm 1942: 125.000 tấn (chiếm 15,2% số ngũ cốc nhập vào Nhật)
- Năm 1943: 634.000 tấn (chiếm 84,5% số ngũ cốc nhập vào Nhật)
- Năm 1944: 335.000 tấn (chiếm 70,0% số ngũ cốc nhập vào Nhật)[9, 379].
Rõ ràng, Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng là nguồn cung cấp lương thực quan trọng nhất cho Nhật Bản. Số lượng gạo của Việt Nam nhập vào Nhật Bản chiếm đến 56,3% và 84,5%  số lượng ngũ cốc nhập vào Nhật năm 1943 là minh chứng rõ ràng nhất về vị trí của Việt Nam trong việc cung cấp lương thực cho Nhật. Do đó, việc Nhật Bản xâm chiếm Đông Dương không phải chủ yếu từ mục tiêu chính trị là ngăn chặn tiếp tế từ bên ngoài cho Trung Quốc mà là do nguồn cung cấp lương thực của Đông Dương cho Nhật trong cuộc tồn tại và xâm lược của họ. Những hiệp định đã được ký kết giữa Nhật với Pháp cùng những số liệu về việc cung cấp lương thực cho Nhật đã chứng minh mục tiêu của Nhật khi xâm chiếm Đông Dương. Vậy hậu quả của chính sách lương thực của Nhật như thế nào?

3. Hậu quả chính sách lương thực của Nhật Bản
Việc Nhật buộc chính phủ Pháp ở Đông Dương cung cấp lương thực với một số lượng lớn như trên đã gây ra những hậu quả vô cùng to lớn đối với nhân dân Việt Nam.
Thứ nhất: Pháp cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc cung cấp cho Nhật. Báo cáo Mật của Sở Mễ cốc ngày 22.4.1942 đã nêu: “(…) Theo quy định, từ nay đến ngày 31.5, Sở Mễ cốc phải nộp cho hãng Mitsui Bussan Kaisha trung bình mỗi tháng 120.000 tấn gạo. Thế nhưng hiện nay Sở Mễ cốc chỉ có thể cung ứng 100.000 tấn gạo và tấm mà thôi. (…)”[13, 153].
Hoặc Báo cáo của Sở Mễ cốc ngày 4.5.1942 “ (…), như vậy tổng cộng từ tháng 1 đến tháng 5.1942 (Pháp phải nộp cho Nhật-ND) là 490.000 tấn. Tính đến nay, Sở Mễ cốc đã nộp cho hãng này (Mitsui Bussan Kaisha) 379.000 tấn. Như vậy, trong tháng 5 còn phải nộp tiếp cho Nhật 109.724 tấn gạo và tấm” [13, 164]. Rõ ràng, thực dân Pháp không có đủ lượng gạo cần thiết để cung cấp cho Nhật. Tuy nhiên, vì mục tiêu chính trị nên Sở Mễ cốc phải ra sức thu mua lúa trong nhân dân để đảm bảo cung cấp cho Nhật. Báo cáo của Chủ tỉnh Gò Công ngày 9.5.1942 đã nêu “(…) Tôi đã ra lệnh cho các chủ vựa khác phải bán gấp số lúa của họ trong thời gian ngắn nhất. Các chánh tổng cũng đã được lệnh phải đích thân đến các vựa lúa để kiểm tra và đốc thúc các chủ vựa bán ngay số lúa đã được quy định” [13, 155].
Hoặc Báo cáo của chủ tỉnh Rạch Giá ngày 14.5.1942 viết: “(…) Sau cuộc họp từ ngày 5-5 ở Sài Gòn trở về, tôi đã ra lệnh khẩn cấp cho các tổng, xã trong tỉnh buộc các điền chủ phải bán lúa của họ cho nhà nước với khối lượng lớn và trong một thời hạn khẩn cấp”[13, 156].
Như vậy, thực dân Pháp đã dùng mọi biện pháp để bắt nhân dân ta bán lúa, gạo cho họ để đủ cung cấp theo yêu cầu của Nhật. Thậm chí, để thắt chặt thị trường lúa gạo, Toàn quyền Đông Dương còn ban hành các Nghị định ngày 12.3.1942 và 31.3.1943 quy định: “những người có hai tấn lúa và 1 tấn gạo trở lên đều phải khai báo và bán lại cho chính quyền thông qua Thương cục Gạo và Bắp” [12,192]
Nghị định của Thống đốc Nam Kì ký ngày 17.4.1943 quy định rõ “ai có 4 tạ thóc hay 2 tạ gạo đều phải khai báo và bán cho nhà nước thấp hơn giá thị trường 1 đồng/tạ” [10, 361]
Ngày 17.4.1944, thay mặt Thống đốc Nam Kì, Thanh tra Vụ Chính trị và hành chính Dufour ký “Nghị định khẩn” gồm 7 điều. Theo đó quy định:
Điều 1:  Trên toàn lãnh thổ Nam Kỳ (ngoại trừ vùng Sài Gòn – Chợ Lớn) yêu cầu tất cả những người hiện đang chứa trữ lúa gạo và tấm (gồm điền chủ, nông gia, chủ ghe bầu, người vận chuyển, người bán lúa, chủ nhà máy xay, người xuất khẩu) phải khai báo trong ngày 5.5.1944, hạn chót trước 16 giờ. […][13, 161-162].
Có thể nói, chính quyền Đông Dương đã thực hiện mọi biện pháp khắc nghiệt để tận thu lúa gạo trong nhân dân, thương buôn, điền chủ…Tuy nhiên, Pháp vẫn không thỏa mãn được yêu cầu của Nhật. Thông tri ngày 21.9.1942, Thống đốc Nam Kỳ Rivoal viết: “Trên thực tế, con số dự kiến 800.000 tấn nộp cho Nhật đã là một dự kiến sai lầm. Thế mà phía người Nhật vẫn cho rằng chúng ta thiếu thiện chí và thành thật, và họ đã tăng lên 1.050.000 tấn, ép buộc chúng ta phải chấp thuận”… [13, 158].
Bên cạnh những biện pháp ép buộc các nhà nông, điền chủ, chủ vựa lúa gạo…phải khai báo và bán theo quy định của nhà nước, thực dân Pháp còn quy định giá mua thấp hơn rất nhiều so với giá cả thị trường. “Năm 1943, giá gạo chính thức do chính quyền thuộc địa ấn định có 26 đồng/tạ (100kg), trong khi giá thị trường lên đến 57 đồng. Rồi tới năm 1944, giá chính thức thu mua vẫn không tăng nhưng giá thị trường lên đến 350 đồng – 400 đồng/tạ…” [14, 402].
Như vậy, chính sách vơ vét, bóc lột lương thực của Nhật đã gây nhiều khó khăn cho thực dân Pháp ở Đông Dương. Tuy nhiên, xét cho cùng, chính nhân dân Việt Nam là đối tượng gánh chịu tất cả những khó khăn đó.
Thứ hai: chính sách trên của Nhật đã tạo nên cơn sốt giá cả trầm trọng ở Việt Nam vào những năm 1944-1945. Trong suốt thời gian bị quân Nhật chiếm đóng, giá cả một số sản phẩm cần thiết tăng lên kinh khủng, làm phát sinh nạn chợ đen, khiến cho những người có thu nhập thấp không thể nào với tới hàng hoá.
Cho đến giữa tháng 5.1942, khắp các tỉnh Nam Kì giá thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác tăng trung bình từ 10% đến 30%, có lúc lên đến 70%. Theo báo cáo của chủ tỉnh Sa Đéc (tháng 5.1942), giá thực phẩm của tỉnh so với cùng kì năm 1941 tăng ít nhất 11% và cao nhất là 77% như: Cá khô tăng 11%; Các loại rau tăng 35%; Hàng tiêu dùng tăng 47%; Gà vịt tăng 77%... Trong khi đó, giá cả ở Long Xuyên cùng kì (5.1942) cũng tăng lên đáng kể như: gạo tăng 20%; rau tăng 30%; nước đá tăng 60%..[13, 253-254].
Sự gia tăng nhanh chóng giá cả các mặt hàng thực phẩm thiết yếu đã tác động rất lớn đến đời sống của nhân dân ta. Tình hình này ngày càng tội tệ hơn vào vụ mùa năm 1944 – 1945. Trong giai đoạn này, từ Nam đến Bắc Việt Nam, hầu như gia đình nào cũng bị đói. Chi phí sinh hoạt tại Sài Gòn tăng lên 450%, tại Hà Nội, chi phí sinh hoạt tăng lên đến 2000% [4, 135].
Trong khi đó, chính quyền Pháp còn tung ra lượng tiền giấy ngày càng nhiều để làm đòn bẩy trong quan hệ làm ăn với Nhật, vừa trả chi phí để duy trì quân đội Nhật tại Đông Dương, vừa trả lương cho công chức và binh lính. Kết quả, lượng tiền lưu thông tăng từ 180 triệu đồng vào năm 1939 lên đến 1tỷ 364 triệu đồng vào năm 1944 [14, 402-403]. Tình hình này làm cho nạn lạm phát tăng cao và làm cho đời sống nhân dân ngày càng cơ cực nhiều hơn.
Thứ ba: chính sách thu mua lương thực cưỡng bức với giá rẽ mạt, bắt nhân dân nhổ lúa, trồng đay phục vụ chiến tranh…là nguyên nhân gây nên nạn đói năm 1945 ở Việt Nam.
Toàn bộ số gạo mà Nhật mua của Việt Nam với giá quy định thấp hơn thị trường rất nhiều. “Tháng 7.1945, giá chính thức thu mua do Nhật ấn định là 55 đồng/tạ, thì giá thị trường là 700 – 800 đồng/tạ” [14, 402]. Như vậy, giá lúa Nhật thu mua chưa bằng 1/12 giá thị trường. Trong khi đó, nhân dân nghèo muốn có “cơm ăn” phải mua lại với giá đắt gấp 12 lần.
Trong khi đó, than đá từ miền Bắc không chở vào Nam được để cho các nhà máy hoạt động. Do đó, gạo, ngô đã được dùng đốt thay cho than đá. Ngược lại, gạo của Nam Kì cũng không thể chở ra Bắc Kì được. Số lượng gạo chuyển từ Nam ra Bắc đã bị giảm sút nghiêm trọng. Năm 1941 là 185.620 tấn; năm 1942 là 126.670 tấn; năm 1943 là 29.200 tấn; năm 1944 là 6.830 tấn [10, 357]. Rõ ràng, số lượng gạo vận chuyển ra miền Bắc trong năm 1944 chỉ bằng 3% so với năm 1941. Hệ quả tất yếu là trong những tháng đầu năm 1945, hàng trăm ngàn người lang thang, ăn xin và chết đói khắp các vùng quê miền Bắc và Miền Trung Việt Nam.
Mặt khác, để giải quyết tình hình khó khăn về nguồn nhiên liệu phục vụ cho sinh hoạt và chiến tranh, chính phủ Nhật bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay, trồng thầu dầu. Ngày 22.1.1945, Thống đốc Nam Kì gởi các chủ tỉnh Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc một công văn mật:
“[…] Phái bộ Nhật yêu cầu Phủ Toàn quyền cho phép hãng Memka KK và hãng Mitsui Bussan Kaisha được lĩnh thầu việc trồng đay ở miền Nam Đông Dương. Riêng Nam Kì, người Nhật yêu cầu 1.400ha diện tích trồng đay phân cho:
- Tokyo Menka KK: 700 ha ở Châu Đốc
- Mitsui Bussan Kaisha:      300 ha ở Long Xuyên ; 300 ha ở Sa Đéc
                                                100 ha ở Cần Thơ [13, 199]
Nếu tính trung bình mỗi hecta thu hoạch 1,3 tấn thóc thì Nam Kì đã mất đi hết: 1400 x 1,3 tấn = 1.820 tấn thóc. Nếu trung bình mỗi người tiêu thụ tối thiểu 120kg thì phải có hơn 15.000 người không có gì ăn.
Ngoài ra, Nhật còn lấy đất ruộng để trồng cây có dầu, lấy dầu trộn với dầu cá, dầu dừa, dầu đậu phọng để làm dầu máy. Tính đến cuối năm 1944, diện tích đất bị Nhật chiếm để trồng đay, thầu dầu là 131.700 hecta [14, 400]. Như vậy, cuối năm 1944, số thóc bị mất trắng khoảng: 131.700 x 1,3 tấn = 171.210 tấn, tương đương gần 1,5 triệu người không có gì ăn.
Tóm lại, chính sách cưỡng bức thu mua lương thực với giá rẻ mạt của Nhật Bản cùng với tình trạng lạm phát tăng cao, giá cả thị trường đặt đỏ, nhân dân mất đất trồng cây công nghiệp phục vụ chiến tranh…đã gây nên nạn đói trầm trọng cho nhân dân Việt Nam cuối năm 1944 – đầu năm 1945.

KẾT LUẬN
Tháng 9.1940, Nhật Bản chính thức xâm chiếm Việt Nam. Nhìn bên ngoài, Nhật chiếm Đông Dương vì đây là khu vực có vị trí chiến lược để Nhật xâm nhập vào Trung Quốc từ phía Nam và là căn cứ để quân Nhật xuất phát đi đánh chiếm xuống vùng Đông Nam Á. Nhưng thực chất, Nhật Bản quan tâm nhiều hơn chính là nguồn lương thực của Việt Nam. Từ năm 1940- 1945, Nhật Bản ra sức ép thực dân Pháp phải cung cấp cho họ một số lượng khổng lồ về gạo, ngũ cốc (đỉnh cao là năm 1943) để cung cấp cho chính quốc lẫn quân đội để xâm chiếm xuống vùng Đông Nam Á, thiết lập khu Thịnh vượng chung Đại Đông Á.
Mặt khác, Nhật còn buộc nhân dân ta phải nhổ lúa trồng đay, thầu dầu để phục vụ cho chiến tranh. Hậu quả, Pháp ra sức vơ vét, bóc lột tàn nhẫn nhân dân ta để đủ lương thực cung cấp cho Nhật. Nhân dân đã đói khổ lại phải mất đất để trồng cây công nghiệp, giá cả sinh hoạt đắt đỏ, lạm phát tăng cao… Do đó, đời sống nhân dân ta vô cùng cơ cực. Hậu quả nặng nề là hơn 2 triệu đồng bào miền Bắc bị chết đói cuối năm 1944 đầu năm 1945. Do đó, có thể kết luận là “vấn đề lương thực của Nhật Bản ở Nam Kì là một trong những nguyên nhân để Nhật nhảy vào Việt Nam và gây ra hậu quả nghiêm trọng cho nhân dân Việt Nam”.

TÓM TẮT
Tháng 9.1940, Nhật Bản chính thức xâm chiếm và thống trị Việt Nam. Mục tiêu quan trọng của họ khi chiếm Việt Nam vì Việt Nam là “cửa ngỏ xâm chiếm Trung Quốc từ phía Nam và là nơi cung cấp lương thực (gạo, ngũ cốc, cây công nghiệp) cho chính quốc lẫn đội quân xâm lược của họ”. Do đó, từ 1940 – 1945, Nhật ép buộc Pháp cung cấp số lượng lớn lương thực và ra sức bóc lột tàn nhẫn nhân dân Việt Nam. Đối với Nam Kì, Nhật Bản vừa vơ vét lúa gạo, thu mua với giá rẻ mạt, bắt nhân dân Nam Kì trồng cây công nghiệp phục vụ chiến tranh…làm cho đời sống nhân dân vô cùng cơ cực, đói khổ. Mặt khác, lúa gạo Nam Kì không vận chuyển ra Bắc được đã gây ra nạn đói trầm trọng cho nhân dân Việt Nam năm 1945.

ABSTRACT
In September 1940, jump on the official Japanese invaded and ruled Vietnam. The important goal of accounting for them when Vietnam is the "gateway invaded China from the South and is a major supplier of food (rice, cereals, industrial crops) for the country and their army of invaders". Thus, from 1940 - 1945, Japan forced the French to provide large quantities of food and strive ruthlessly exploited the people of Vietnam. For the Southern Vietnam, Japan has rice plunder, and buying the cheap price, by the people of South Vietnam growing industrial war service ... make people's life extremely hard, hungry. On the other hand, Rice Southern Vietnam were not transported to the North has caused severe famine for the people of Vietnam in 1945.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thế Anh (1974), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, Bộ VHGD và Thanh Niên, Sài Gòn.
2. Lý Hiệp Bình, Việt Nam dưới thời kì quân đội Nhật chiếm đóng, Tia Sáng Nhật báo, ngày 13.9.1968.
3. Daniel Hémery (2005), Hồ Chí Minh từ Đông Dương đến Việt Nam, Lê Toan biên dịch, NXB Phụ Nữ.
4. David C. Marr (1980), “World War II and the Vietnamese Revolution” in Southeast Asia under Japanese Occupation, Alfred W. McCoy [Ed], New Haven
5. Dixee R. Bartholomew-Feis (2008), OSS và Hồ Chí Minh, Đồng minh bất ngờ trong cuộc  chiến chống phát xít Nhật, Lương Lê Giang dịch, NXB Thế Giới- Công ty Văn hóa và Truyền thông Võ Thị.
6. Futura Motoo (1998), Việt Nam trong lịch sử thế giới¸ Nguyễn Văn Nguyệt dịch, NXB CTQG, HN.
7. Lê Đình Hà (2006), Cuộc đời Nhật Hoàng Hiro Hito, NXB Thanh Niên.
8. Nguyễn Văn Khánh (1999), Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 – 1945), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
9. Phan Ngọc Liên(2001), “Chiến lược cung cấp lương thực” của Nhật trong thời kì chiếm đóng Việt Nam – Một trong những nguyên nhân gây ra nạn đói 1944 – 1945 trong Chứng tích Pháp – Nhật trong chiến tranh xâm lược Việt Nam 1858 – 1945, NXB Trẻ.
10. Đào Phiếu (2001), Chứng tích chiến tranh xâm lược của phát xít Nhật ở Việt Nam trong Chứng tích Pháp – Nhật trong chiến tranh xâm lược Việt Nam 1858 – 1945, NXB Trẻ.
11. Philipe Devillers (2003), Paris-Sài Gòn-Hà Nội, Hoàng Hữu Đảm dịch, NXB Tổng hợp TP HCM.
12. Nguyễn Phan Quang (2004), Thị trường lúa gạo Nam Kỳ (1860 - 1945), NXB Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.
13. Nguyễn Phan Quang (1998), Góp thêm tư liệu Sài Gòn – Gia Định từ 1859 – 1945, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
14. BS. Ngô Văn Quỹ (2001), Sinh mệnh hai triệu nông dân Bắc Kì và nạn đói 1945 – Kết quả sự đầu hàng nhục nhã của Pháp trong Chứng tích Pháp – Nhật trong chiến tranh xâm lược Việt Nam 1858 – 1945, NXB Trẻ.
15. Văn Tạo - Furuta Motoo (1995), Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam:những chứng tích lịch sử, Viện sử học Việt Nam xuất bản, Hà Nội.

 


· Khoa Sư phạm Khoa học Xã hội – Trường Đại học Sài Gòn.
[1] Lý Hiệp Bình, Việt Nam dưới thời kì quân đội Nhật chiếm đóng, Tia Sáng Nhật báo, ngày 13.9.1968.