2/9/17

CHÍNH SÁCH ĐỐI NỘI VÀ ĐỐI NGOẠI THỜI YAMATO

Chính sách đối nội của Thái tử Shotoku
Vào nửa sau thế kỷ thứ VI, triều đình Yamato lâm vào tình trạng suy thoái và phân liệt.
Sau khi lên ngôi, Nữ hoàng Suiko cử cháu của bà là Umayado no miko (con trai của Thiên Hoàng Yomei) làm Hoàng thái tử, hiệu là Shotoku.
Cả nữ hoàng và thái tử đếu có quan hệ huyết thống chặt chẽ với dòng họ Soga và được Soga Umako hết lòng ủng hộ.
Người đóng vai trò lớn nhất trong việc tiếp thu văn hoá Trung Quốc vào thủơ ban sơ là Thái tử Shotoku (Thánh Đức: 574-622), thuộc dòng họ Soga
Từ đây trong vòng 30 năm, Thái tử Thánh Đức trực tiếp điều hành quốc chính và đã ban hành một loạt cải cách quan trọng nhằm củng cố quyền lực của nhà nước Yamato.
Với tư cách là Nhiếp chính của triều đình, Shotoku tích cực truyền bá đạo Phật, xây cất chùa chiền, củng cố và nâng cao uy tín của chính quyền trung ương.
Khôi phục quyền lực của triều đình Yamato đứng đầu là Thiên Hoàng.
Ông đặt ra nhiệm vụ cốt yếu lúc này là giải quyết vấn đề Triều Tiên, chiếm Mimana
Khôi phục quyền lực của triều đình Yamato đứng đầu là Thiên Hoàng.
Tập hợp nhân tài cho một nhà nước thống nhất và củng cố vai trò của Phật giáo.
Năm 603, công bố Mười hai bậc quan vị trong đó quy định rõ ràng chức vụ, địa vị, phẩm phục của các vị quan lại trong triều, củng cố bộ máy quan lại của chính quyền trung ương.
Chế độ quan lại 12 cấp quy định tất cả các thần dân, bất kể xuất thân giàu nghèo, bằng tài năng và công tích của mình có thể được phong quan vị.
Quan vị chỉ giới hạn một đời, không được thừa kế.
Chế độ này đã đánh vào quan niệm Thị tính cũ và mở ra triển vọng chiêu tập nhân tài trong tầng lớp thường dân và Toraijin.
Chế độ quan chức mới này bao gồm 12 cấp, được quy định theo quan niệm đạo đức Nho giáo Nhân – Nghĩa – Lễ - Trí – Tín  và quan niệm Ngũ hành Mộc - Hỏa - Thổ - Kim - Thủy.
Trong đó, thứ tự các cấp gắn liền với trang phục và màu mũ.
Năm 604, Thái tử cho công bố Mười bảy điều Hiến pháp làm nền tảng cho việc xây dựng chính quyền trung ương tập quyền ở Nhật.
Đây là 17 quy định và giáo huấn về đạo đức dành cho quan lại triều đình
Những quy định này được xây dựng trên cơ sở quan niệm Nho giáo và tư tưởng tuyệt đối hóa của Thiên Hoàng.
Năm 620, Thái tử giao cho Soga Umako biên soạn Chính sử ghi chép về dòng họ Thiên Hoàng, quốc ký, ghi chép về dòng họ Omi, Muraji, Tomo no Miyatsuko, Kuni no miyatsuko và ghi chép về thần dân.
Đây là cuốn sử được biên soạn theo kiểu Chính sử của Trung Quốc và Triều Tiên nhằm khẳng định vị trí của triều đình Yamato với nước ngoài và thần dân trong nước.
Chính sách đối ngoại của Thái tử Shotoku thế kỷ VI-VII.
Vào nửa sau thế kỷ thứ VI, triều đình Yamato lâm vào tình trạng suy thoái và phân liệt.
Sau khi lên ngôi, Nữ hoàng Suiko cử cháu của bà là Umayado no miko (con trai của Thiên Hoàng Yomei) làm Hoàng thái tử, hiệu là Shotoku.
Cả nữ hoàng và thái tử đếu có quan hệ huyết thống chặt chẽ với dòng họ Soga và được Soga Umako hết lòng ủng hộ.
Người đóng vai trò lớn nhất trong việc tiếp thu văn hoá Trung Quốc vào thủơ ban sơ là Thái tử Shotoku (Thánh Đức: 574-622), thuộc dòng họ Soga.
Từ đây trong vòng 30 năm, Thái tử Thánh Đức trực tiếp điều hành quốc chính và đã ban hành một loạt cải cách quan trọng nhằm củng cố quyền lực của nhà nước Yamato.
Ông đặt ra nhiệm vụ cốt yếu lúc này là giải quyết vấn đề Triều Tiên, chiếm Mimana.
Khôi phục quyền lực của triều đình Yamato đứng đầu là Thiên Hoàng.
Tập hợp nhân tài cho một nhà nước thống nhất và củng cố vai trò của Phật giáo.
Năm 600, Shotoku cử Sứ thần mang Quốc thư sang Trung Quốc để đặt quan hệ ngoại giao với nhà Tuỳ.
Trong thời gian nhiếp chính Shotoku gởi tất cả là 3 phái đoàn sang Trung Quốc, mỗi phái đoàn gồm có tăng lữ, học giả về lịch sử và văn học Trung Quốc, nho sĩ v.v.
Trong Quốc thư của nước Yamato gửi Tùy Dượng đế có câu: “Thiên tử xứ Mặt trời mọc kính gửi Thiên tử xứ Mặt trời lặn” .
Như vậy, ít nhất Nhật Bản cũng tỏ ra mình là một quốc gia đối đẳng với Trung Quốc.
Nhật Bản cũng bành trướng mạnh mẽ quyền lực của mình ở Triều Tiên, đặc biệt họ liên minh với vương quốc Baekche để chống lại Koguryo.
Nhật Bản đã cố gắng thiết lập quan hệ đối đẳng với TQ.
Năm 600, Shotoku đã gửi hơn một vạn quân sang chiếm lại Nhậm Na.
Nhưng sau khi quân Nhật về nước, Tân La lại đem quân đòi lại.
Năm 602, Shotoku cử em trai là Kume No Miko (Lai Mục Hoàng Tử) làm Sei Shiragi Shogun (Chinh Tân La Tướng Quân), tập hợp khoảng hai vạn năm nghìn binh chuẩn bị sang đánh Tân La.
Tuy nhiên, tất cả các kế hoạch chuẩn bị của Shotoku đều không thành vì các tướng quân đều ngã bệnh nên kế hoạch bị hoãn lại.
Sau nhiều lần chuẩn bị không thành, lại ý thức tình hình trong nước chưa ổn, Shotoku quyết định từ bỏ việc đánh chiếm lại Nhậm Na.
Thay vào đó, ông chủ trương thúc đẩy giao lưu với nhà Tùy.
Chính sách đối với Trung Quốc của Thái tử Shotoku.
- Vào nửa sau thế kỷ VI, triều đình Yamato lâm vào tình trạng suy thoái và phân liệt.
- Sau khi lên ngôi, Nữ hoàng Suiko cử Umayado no miko (Cứu hộ hoàng tử) là con trai của Thiên hoàng Yomei và là cháu của bà, làm Hoàng thái tử, hiệu là Shotoku (Thánh Đức).
- Từ đây trong vòng 30 năm, Thái tử Thánh Đức trực tiếp điều hành quốc chínhvà đã ban hành một loạt cải cách quan trọng nhằm củng cố quyền lực của nhà nước Yamato.
- Ông đặt ra nhiệm vụ cốt yếu lúc này là giải quyết vấn đề Triều Tiên, chiếm Mimana; khôi phục quyền lực của triều đình Yamato đứng đầu là Thiên hoàng; tập hợp nhân tài cho một nhà nước thống nhất và củng cố vai trò của Phật giáo.
- Năm 620, Thái tử giao cho Soga Umako biên soạn Chính sử. Đây là cuốn sử được biên soạn theo kiểu Chính sử của Triều Tiên nhằm khẳng định vị trí của triều đình Yamato đối với nước ngoài và thân dân trong nước.
- Năm 589, nhà Tùy đã hoàn thành việc thống nhất đất nước, kết thúc cục diện phân tranh Nam Bắc triều.
- Mô hình nhà nước trung ương tập quyền thâu tóm đến cấp quận huyện của nhà Tùy đã trở thành mục tiêu cải cách của Shotoku.
- Năm 600, Shotoku cử Sứ thần mang Quốc thư sang Trung Quốc để đặt quan hệ ngoại giao với nhà Tuỳ.
- Năm 607, ông cử Ono no Imoko (Tiểu Dã Muội Tử) cầm đầu đoàn sứ tiết sang Tùy.
- Cùng năm đó, Ono được cử sang Tùy lần thứ hai.
- Năm sau, khi Ono về nước, nhà Tùy đã cử Bùi Thế Thanh sang Nhật làm sứ giả.
- Năm 614, Shotoku lại cử Inugami no Mitasuki (Khuyển Thượng Ngự Điền Thù) sang sứ Tùy.
- Cùng đi với các sứ giả là các lưu học sinh và sư tăng.
- Họ ở lại Tùy nhiều năm, nghiên cứu chế độ chính trị, văn hóa, Phật giáo… và  khi về nước đã đóng góp rất lớn cho sự phát triển của Nhật Bản, ngay cả khi Shotoku qua đời.
- Trong thời gian nhiếp chính Shotoku gởi tất cả là 3 phái đoàn sang Trung Quốc, mỗi phái đoàn gồm có tăng lữ, học giả về lịch sử và văn học Trung Quốc, nho sĩ v.v.
- Trong Quốc thư của nước Yamato gửi Tùy Dượng đế có câu: “Thiên tử xứ Mặt trời mọc kính gửi Thiên tử xứ Mặt trời lặn” hay “Đông Thiên hoàng kính bạch Tây Thiên hoàng”.
- Cách xưng hô này khác hẳn với cách xưng thần trong các bức thư thời Ngũ vương trước kia và cho thấy ý thức tự chủ của Shotoku và triuề đình Yamato trong quan hệ với nhà Tùy.
- Như vậy, ít nhất Nhật Bản cũng tỏ ra mình là một quốc gia đối đẳng với Trung Quốc.
- Nhật Bản cũng bành trướng mạnh mẽ quyền lực của mình ở Triều Tiên, đặc biệt họ liên minh với vương quốc Baekche để chống lại Koguryo.

- Nhật Bản đã cố gắng thiết lập quan hệ đối đẳng với TQ.

Tình hình chính trị xã hội thời Yamato từ thế kỷ IV đến thế kỷ VII

Tình hình chính trị xã hội thời Yamato từ thế kỷ IV đến thế kỷ VII
- Vào cuối thế kỷ thứ III, ở Nhật đã hình thành một vương quốc hùng mạnh - Vương quốc Yamato.
- Từ cuối thế kỷ thứ III, những ảnh hưởng về hình thức mai táng của lục địa đã được thủ lĩnh và vua của các tiểu quốc áp dụng.
- Người Nhật thời Yamato bắt đầu xây mồ lớn bằng đất để chôn các tộc trưởng, đánh dấu bước đầu của thời kỳ văn hoá Kofun (cổ phần; mộ cổ), kéo dài cho đến đầu thế kỷ thứ VIII.
- Kofun có nhiều hình dáng như tròn, vuông, trên tròn dưới vuông, trước vuông sau tròn.
- Trong đó, loại trước vuông sau tròn có quy mô lớn nhất và được coi là loại mộ cổ điển hình của Nhật Bản.
- Dựa vào đặc điểm về hình dáng, quy mô, cấu trúc của mộ cổ và các đồ tùy táng mà người ta chia văn hóa Kofun làm ba thời kỳ chính là tiền kỳ, trung kỳ và hậu kỳ. 
- Kofun lúc đó có quy mô cực kỳ to lớn (mộ hay lăng) lớn nhất có chiều dài là 800 mét.
- Quanh lăng thường có các hàng tượng đất sét (haniwa)  mang hình người mặc áo giáp, nhà cửa, ngựa hay các động vật khác rất có giá trị mỹ thuật cũng như khảo cổ.
- Vùng Yamato thuộc khu vực Kinki là một trong hai trung tâm phát triển của văn hóa Yayoi.
- Như vậy, có thể từ cuối thế kỷ III đến đầu thế kỷ IV, ở khu vực này đã xuất hiện một thế lực chính trị - tôn giáo hùng mạnh nhờ liên kết các thủ lĩnh bộ lạc dưới sự lãnh đạo của một thủ lĩnh mạnh nhất.
- Trong các thế kỷ IV, V, thế lực chính trị này đã mở rộng cần ảnh hưởng bằng cách vừa chinh phục vừa liên kết với các vùng lân cận, tiến tới hình thành một nhà nước cổ đại thống nhất torng một phạm vi rộng lớn từ miền Bắc đảo Kyushu đến trung tâm đảo Honshu, gọi là nước Yamato (Đại Hòa).
- Vị thủ lĩnh hùng mạnh đứng đầu nhà nước này chính là tổ tiên của dòng họ Thiên Hoàng ngày nay.
- Từ giữa thế kỷ thứ IV, sau khi đã cơ bản ổn định tình hình trong nước, triều đình Yamato càng chú ý mở rộng thế lực sang bán đảo Triều Tiên.
- Xã hội Nhật Bản vào thời kỳ Yamato là xã hội thị tộc (uji : thị).
- Trong nước có nhiều thị tộc, và mỗi thị tộc được cai quản bởi tộc trưởng (uji no kami) và thờ một vị thần riêng của thị tộc đó, gọi là ujigami.
- Tộc trưởng có vai trò điều hành các nghi lễ tế thần, thống lãnh các thành viên thị tộc và đại diện cho thị tộc trong các cuộc thương thuyết.
- Cơ sở căn bản của xã hội lúc này vẫn là các thị tộc gồm nhiều gia đình sống quây quần trong một địa vực nhất định và thường có nghề nghiệp chung.
- Các thị tộc lớn sở hữu một số nông dân và thợ thủ công phụ thuộc không cùng dòng họ gọi là Bemin (bộ dân) hay Kakibe (bộ cung).
- Những người này sống thành gia đình và có nghĩa vụ lao động phục vụ cho thị tộc.
- Dòng dõi của Thiên Hoàng Nhật Bản cũng bắt nguồn từ một trong những thị tộc này, và sau khi thống nhất được lãnh thổ, thị tộc của Thiên Hoàng bắt đầu ban chức tước quý tộc (kabane) cho những thị tộc lớn khác để củng cố và khẳng định quyền uy của mình.

VĂN HÓA YAYOI

Văn hóa Yayoi  (từ thế kỷ III TCN đến thế kỷ III SCN) và đặc điểm của nó.
- Vào khoảng thế kỷ thứ II trước công nguyên ở miền Bắc đảo Kyushu đã xuất hiện một loại đồ gốm khác hẳn đồ gốm Jomon.
- Trong khoảng hai thế kỷ, nên văn hóa cùng thời với loại đồ gốm này đã lan rộng ra toàn bộ miền tây nam nước Nhật, cho đến giữa đảo Honshu.
- Sau này các nhà khảo cổ học dựa vào địa danh nơi tìm thấy loại đồ gốm này đầu tiên để đặt tên là gốm Yayoi (Di sinh, từ thế kỷ III trước CN đến thế kỷ III sau CN).
- So với gốm Jomon, gốm Yayoi mỏng hơn, được làm từ chất liệu đất sét tốt hơn, được nung ở nhiệt độ cao (800 – 1000 độ) nên bền chắc hơn và có màu đỏ nâu.
- Đồ gốm được làm bằng tayhay bàn xoay, hình dáng thon, tiện sử dụng và hoa văn trang trí đơn giản.
- Sự phát triển của gốm Yayoi được chia thành 3 giai đoạn: tiền, trung và hậu kỳ.
- Dựa vào niên đại của đồ gốm, người ta cũng chia văn hóa Yayoi thành 3 giai đoạn: tiền, trung và hậu kỳ.
- Đặc trưng của nền văn hóa này là sự xuất hiện của công cụ bằng đá và việc phổ biến kỹ thuật trồng lúa.
- Các công cụ bằng đồng thau và sắt đã được những nhóm người di cư đưa vào Nhật Bản qua bán đảo Triều Tiên gần như cùng một lúc.
- Các hiện vật khảo cổ học tìm được cho thấy vào giai đoạn đầu của văn hóa Yayoi chủ yếu là các công cụ kim loại được sản xuất ở Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên.
- Từ giai đoạn trung kỳ văn hóa Yayoi, người Nhật đã mô phỏng theo những công cụ này để tự sản xuất ra đồ kim loại.
- Các công cụ bằng đồng tìm được gồm vũ khí hai cạnh sắc như kiếm, mũi tên, qua đồng, tìm thấy nhiều trong các di chỉ tiền và trung kỳ của văn hóa Yayoi ở miền Bắc Kyushu và Tây Nam Shikoku.
- Tiếp đó, trong các di chỉ trung và hậu kỳ Yayoi ở miền Tây nam đảo Honshu, mà trung tâm là khu vực Kinki, người ta tìm thấy số lượng lớn gương và đạc đồng. So với đồ đồng, đồ sắt dễ bị gỉ hơn nên số lượng hiện vật tìm được ít hơn.
- Các hiện vật sắt tìm được gồm vũ khí như kiếm, dao, thương, qua, mũi tên, nông cụ như rìu, lưỡi cày, dao gặt, gọt xe chỉ.
- Đồ trang sức bằng đá cũng tìm thấy nhiều như vòng tay, hạt xâu chuỗi hình tròn, hình ống, các mảnh ngọc cong bằng mã não, ngọc bích hay thạch anh.
- Công cụ bằng gỗ, tre tuy dễ bị mục nát theot hời gian nhưng vẫn được khá nhiều ở một số di chỉ cư trú và ruộng lúa đã khô cạn.
- Vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên một nền văn hoá mới đi từ TQ, Triều Tiên sang miền Bắc Kyushu gọi là văn hoá Yayoi (từ 250 TCN đến 250 sau CN; gọi theo tên của một di tích khảo cổ ở Tokyo).
- Người Yayoi biết làm đồ gốm bằng bánh xe quay và biết cách trồng lúa.
- Cách thức này bắt nguồn từ miền Nam Trung Hoa và Đông Nam Á.
- Khi truyền sang Nhật Bản đã đem lại những biến đổi sâu sắc đến cách sinh hoạt của người Nhật.

VĂN HÓA JOMON

Văn hóa Jomon
- Vào đầu thời Toàn tân (khoảng 1 vạn năm cách ngày nay), Nhật Bản trở thành một quần đảo tách ra khỏi lục địa Châu Á.
- Con người trên quần đảo này bắt buộc phải thích nghi với điều kiện sống mới cách xa đất liền.
- Để săn bắn có hiệu quả hơn, họ đã cải tiến các công cụ đá bằng kỹ thuật mài, đánh bóng và sử dụng nhiều hơn công cụ bằng gỗ, tre, sừng, xương.
- Đặc biệt người ta phát minh ra kỹ thuật làm gốm.
- Loại đồ gốm xuất hiện đầu tiên ở Nhật Bản có hoa văn đặc trưng hình dây thừng nên được gọi là gốm Jomon (thằng văn).
- Gốm Jomon xuất hiện ở Nhật Bản từ 8 nghìn năm đến 3 trăm năm trước công nguyên.
- Người ta lấy tên của loại đồ gốm này để gọi nên văn hóa đá mới có gốm đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản.
- Các di chỉ có gốm Jomon được tìm thấy trên khắp nước Nhật, đặc biệt tập trung nhiều ở phía Đông quần đảo Nhật Bản, ven bờ Thái Bình Dương như vịnh Sendai, vịnh Tokyo…
- Dựa vào hình dáng và hoa văn, người ta chia đồ gốm Jomon thành 5 kỳ là tảo kỳ, tiền kỳ, trung kỳ, hậu kỳ và mạt kỳ.
- Gốm Jomon Tảo kỳ được tìm thấy nhiều tại các hang động hay mái đá, có hình bát sâu, đáy tròn hoặc nhọn, hoa văn gồm những đường gờ nổi hoặc rãnh chìm, màu nâu đen.
- Đồ gốm Tiền kỳ có hình dáng và trang trí phức tạp, thường có đáy bằng, hình bát sâu hoặc ống tròn, hoa văn dây thừng và các điểm nổi.
- Đồ gốm Trung kỳ có kích thước lớn, đáy bằng, hình ống tròn hoặc hình vò, hoa văn là những đường gờ nổi lớn.
- Vào Hậu kỳ và Mạt kỳ, gốm Jomon có thành mỏng hơn, được làm bằng loại đất sét tốt. Hình dáng cũng đa dạng hơn.
- Nền văn hoá Jomon là nền văn hóa xưa nhất của Nhật Bản.
- Nó ra đời cách đây 7 - 8000 năm TCN, tương đương với buổi đầu của thời đại đồ đá mới - và kéo dài cho đến năm 250 TCN.
- Người ta phát hiện các thạp bằng gốm, có hoa văn hình dây thừng nên gọi là Jomon.
- Kỹ thuật chế tạo gốm chưa cao lắm nhưng nhiều hoa văn trang trí rất đẹp.
- Các đồ gốm chủ yếu là đựng lương thực.
-  Chủ nhân của văn hoá Jomon săn bắt và hái  lượm. Đàn ông thì săn bắt, đàn bà thì hái lượm.
- Họ sống trong các nhà hang gọi là anatate. Mỗi nhà như vậy có khoáng 5,6 người.
Di tích Văn hóa Jomon
Người ta phát hiện các thạp bằng gốm, có hoa văn hình dây thừng nên gọi là Jomon. Gốm Jomon xuất hiện ở Nhật Bản từ 8 ngàn năm đến 300 năm trước công nguyên. Người ta lấy tên của loại đồ gốm này để gọi nền văn hóa đá mới có gốm đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản.
Các di chỉ có gốm Jomon được tìm thấy trên khắp nước Nhật, đẵc biệt tập trung nhiều ở vịnh phía Đông quần đảo Nhật Bản, ven bờ Thái Bình Dương như vịnh Sendai, vịnh Tokyo….Dựa vào hình dáng và hoa văn, người ta chia đồ gốm Jomon thành 5 kỳ là tảo kỳ, tiền kỳ, trung kỳ, hậu kỳ và mạt kỳ.
Gốm Jomon Tảo kỳ được tìm thấy nhiều tại các hang động hay mái đá, có hình bát sâu, đáy tròn hoặc nhọn, hoa văn gồm những đường gờ nổi hoặc rãnh chìm, màu nâu đen. Trên mặt gốm còn sót lại những dấu tích của các sợi thực vật.
Đồ gốm tiền kỳ có hình dáng và trang trí phức tạp, thường có đáy bằng, hình bát sâu hoặc ống tròn, hoa văn dây thừng và các điểm nổi.
Đồ gốm Trung kỳ có kích thước lớn, đáy bằng, hình ống tròn hoặc hình vò, hoa văn là những đường gờ nổi lớn.
Vào Hậu kỳ và Mạt kỳ, gốm Jomon có thành mỏng hơn, được làm bằng loại đất sét tốt. Hình dáng cũng đa dạng hơn, ngoài hình bát sâu còn có hình đĩa, bình, có loại có vòi rót.
Kỹ thuật chế tạo gốm chưa cao lắm nhưng nhiều hoa văn trang trí rất đẹp. các đồ gốm chủ yếu là đựng lương thực. Đặc điểm chung của gốm Jomon là được nặn bằng tay, nung lộ thiên ở nhiệt độ thấp (600 – 700 độ) nên thường có màu đen ám khói. Gốm Jomon được dùng để đựng, nấu hay tích trữ thức ăn.
Kinh tế: Chủ nhân của văn hoá Jomon săn bắt và hái lượm. Đàn ông thì săn bắt, đàn bà thì hái lượm. Họ sống trong các nhà hang gọi là Anatate. Mỗi nhà như vậy có khoảng 5,6 người. Đồ đá vẫn là công cụ phổ biến nhất. Bên cạnh những công cụ đá được ghè đẽo đã xuất hiện các công cụ đã được mài nhẵn và đánh bóng công phu. Các dụng cụ bằng xương, sừng hươu hay nanh lợn rừng, cũng rất phổ biến nhất là lưỡi câu và lưỡi giáo. Công cụ bằng tra, gỗ chủ yếu là cán dao, giáo, cung hay đĩa, bát và thuyền gỗ tròn.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, với hình dáng đặc biệt và hoa văn phức tạp, có thể gốm Jomon còn là các vật dụng cúng thần trong các nghi lễ tôn giáo.
Đặc điểm văn hóa Jomon
1- Biết sử dụng cung tên để săn các giống thú rừng cỡ nhỏ và cỡ nhỡ càng ngày càng tăng gia sinh sản.
2) Biết dùng đồ chứa bằng gốm (vò vại, nồi niêu) để nấu chín và dự trữ thức ăn.
3) Biết sử dụng dụng cụ đá mài. Đồ đá mài khác với đá đẽo là có thêm một đợt gia công để trở nên tinh vi hơn. Do đó thời này còn được mệnh danh là thời đồ đá mới (tân thạch khí).

11/4/17

THÔNG BÁO
Tất cả lớp 11 Trần Nhật Duật sẽ ôn tập và kiểm tra câu 1-4 vào ngày Thứ Tư (12/4) nhé. Vì thời gian không còn nữa nên các bạn thông cảm và ôn thi nhé.


NỘI DUNG ÔN THI HỌC KÌ II
Môn: LỊCH SỬ 11
Năm học 2016 – 2017

Câu 1. Con đường dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)
1. Các nước phát xít đẩy mạnh xâm lược 1931 – 1937.
Từ những năm 30, các nước phát xít Đức, Italy, Nhật liên kết thành phe Trục và đẩy mạnh xâm lược như: Đức thôn tính Tiệp Khắc, Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, Italy can thiệp vào Bắc Phi.
Thái độ của các nước đối với phát xít:
- Liên Xô muốn liên kết với Anh, Pháp để cùng chống PX nhưng bị từ chối.
- A, P muốn “mượn tay” PX tiêu diệt LX nên dung dưỡng, thỏa hiệp với PX.
- Mĩ thực hiện “đạo luật trung lập”, không can thiệp ngoài châu Mĩ
2. Từ hội nghị Muy-nich đến chiến tranh thế giới.
- Năm 1938, Hit-le (Hiller) gây ra vụ Xuy-đet để thôn tính Tiệp Khắc.
- Ngày 29-9-1938, Hiệp ước Muy-nich được ký kết, A,P trao Xuy-đet cho Đức, đổi lại, Đức hứa tấn công LX -> Đỉnh cao sự nhân nhượng, thoả hiệp của A, P đối với PX.
 - Ngày 23-8-1939, Xô – Đức ký bản Hiệp ước Xô – Đức không xâm phạm lẫn nhau.
- Ngày 01-9-1939, Đức tấn công Ba Lan.
- Ngày 03-9-1939, A, P tuyên chiến với Đức.
=> Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.
Câu 2. Kết cục chiến tranh thế giới thứ hai
- CNPX bị tiêu diệt tận gốc, thắng lợi thuộc về phe các nước đồng minh. Liên Xô, Mĩ, Anh giữ vai trò quyết định đánh bại phát xít.
- Chiến tranh gây ra hậu quả nặng nề: 70 nước tham gia; 60 tr người chết, 90tr người bị thương, nhiều thành phố, làng mạc bị thiêu hủy, thiệt hại gấp 10 lần chiến tranh thế giới thứ I.
-Tính chất: lúc đầu là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa để phân chia thuộc địa. Từ năm 1941, Đức tấn công Liên Xô, chiến tranh trở thành chính nghĩa của nhân loại chống phát xít, chống chiến tranh vì hòa bình, an ninh thế giới.
Câu 3. Cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Kì sau Hiệp ước 1862
Sau Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), nhân dân ĐNK anh dũng chống Pháp. Phong trào ‘tị địa” diễn ra sôi nổi, gây cho P nhiều khó khăn.
Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Trương Định (1859-1864)
- Nguyên nhân: Nhà Nguyễn Ký Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), nhường 3 tỉnh miền Đông Nam Kì cho Pháp và buộc Trương Định đi lãnh binh ở miền Tây. Trương Định không đi, ở lại cùng nhân dân chống Pháp.
- Diễn biến:
+ Nhân dân suy tôn Trương Định làm Bình Tây Đại nguyên soái để lãnh đạo cuộc kháng chiến.
+ Nghĩa quân xây dựng căn cứ Tân Hòa (Gò Công) và anh dũng chiến đấu, gây cho Pháp “thất điên bát đảo”. Pháp tấn công nghĩa quân rút về căn cứ Tân Phước.
+ Ngày 20.8.1864, Pháp bất ngờ tấn công căn cứ Tân Phước, Trương Định bị thương và tự sát để bảo toàn khí tiết.
- Kết quả: khởi nghĩa thất bại.
Câu 4. Nhân dân Bắc Kì chống Pháp từ 1873-1874
Trong thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương anh dũng chiến đấu, bị thương và tự sát để không rơi vào tay giặc.
Các sĩ phu, văn thân yêu nước bí mật lập Nghĩa hội chống Pháp.
Nhân dân Bắc Kì chống Pháp dưới mọi hình thức như tự tay đốt các dãy phố để tạo thành bức tường lửa chống Pháp.
Ngày 21-12-1873, Gac-ni-ê bị quân của Hoàng Tá Viêm và Lưu Vĩnh Phúc giết tại Cầu Giấy làm cho Pháp hoang mang. Nhân dân phấn khởi nhưng triều đình muốn thương lượng với Pháp.
Ngày 15-3-1874, nhà Nguyễn ký Hiệp ước Giáp Tuất, thừa nhận 6 tỉnh Nam kì thuộc Pháp.
Câu 5. Pháp đánh chiếm Bắc kì lần thứ hai (1882)
Tư bản Pháp đang trên đà phát triển, rất cần nguồn tài nguyên Bắc kì nên tìm mọi cách xâm lược Bắc kì lần thứ hai.
Ngày 3-4-1882, vu cáo nhà Nguyễn vi phạm Hiệp ước 1874, Ri-vi-e đưa quân tới Hà Nội.
Ngày 25-4-1882, Ri-vi-e gởi tối hậu thư buộc Hoàng Diệu giao thành. Không đợi trả lời, Ri-vi-e cho quân tấn công, thành mất, Pháp chiếm luôn Hòn Gai, Quảng Yên, Nam Định….
Câu 6. Nhân dân Hà Nội và các tỉnh Bắc Kì kháng chiến 1883-1884.
Trong thành Hà Nội, Hoàng Diệu anh dũng chiến đấu, bị thương và tự sát để bảo toàn khí tiết.
Nhân dân Bắc Kì chống Pháp dưới mọi hình thức như tự tay đốt các dãy phố để tạo thành bức tường lửa chống Pháp.
Ngày 19.5.1883, Ri-vi-e bị bị quân của Hoàng Tá Viêm và Lưu Vĩnh Phúc giết tại Cầu Giấy làm cho Pháp hoang mang => Thể hiện quyết tâm chống Pháp của nhân dân ta. Triều đình Huế nhân nhượng Pháp.
Câu 7. Cuộc phản công Kinh thành Huế tháng 7-1885.
Nguyên nhân:
+ Phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết đứng đầu muốn giành lại chủ quyền từ tay Pháp.
+ Pháp tìm cách tiêu diệt phái chủ chiến
=> Tôn Thất Thuyết chủ động ra tay trước.
Đêm 4 rạng 5.7.1885, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh bất ngờ tấn công Pháp ở đồn Mang Cá và Tòa Khâm Sứ nhưng thất bại.
Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị).
Ngày 13-7-1885, Ông thay mặt vua ban chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân sĩ phu và nhân dân giúp vua cứu nước.
=>  Phong trào Cần Vương bùng nổ và lan rộng.
Câu 8. Phong trào Cần Vương
Sau thất bại ở Huế, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị).
Ngày 13-7-1885, Tôn Thất Thuyết thay mặt vua ban chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân sĩ phu và nhân dân giúp vua cứu nước.
=>  Phong trào Cần Vương bùng nổ và lan rộng.
Giai đoạn 1885-1888
- Dưới sự lãnh đạo của Vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết, phong trào lan rộng khắp Bắc Kì và Trung Kì, lôi kéo đông đảo văn thân, sĩ phu, tướng lãnh tham gia.
- Tháng 11.1988, Vua Hàm Nghi bị bắt và bị đày sang An-giê-ri.
Giai đoạn 1888-1896: Phong trào được duy trì dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật…và gây nhiều thiệt hại cho Pháp. Tuy nhiên, phong trào kéo dài đến năm 1896 thì thất bại.
Đặc điểm của phong trào Cần vương
Đây là một phong trào đấu tranh rộng lớn, thu hút đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia, đặc biệt là nhân dân ở Bắc Kì và Trung Kì. Một số cuộc khởi nghĩa giành được những thắng lợi bước đầu và gây nhiều thiệt hại cho Pháp như khởi nghĩa Bãi Sậy, Ba Đình, Hương Khê. Tuy nhiên, do chưa có đường lối lãnh đạo đúng đắn, ngọn cờ phong kiến không còn phù hợp…nên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại.
Câu 9. Khởi nghĩa Hương Khê (1885 – 1896)
- Nguyên nhân: để hưởng ứng PTCV, giúp vua cứu nước, Phan Đình Phùng và Cao Thắng xây dựng căn cứ ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình để chống Pháp.
- Diễn biến
Từ 1885 – 1887, là giai đoạn xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng và rèn đúc vũ khí, chế tạo thành công súng trường theo mẫu của Pháp.
Từ 1888 – 1896 là giai đoạn chiến đấu quyết liệt, đẩy lùi nhiều cuộc tấn công của Pháp.
Tháng 5-1890, Cao Thắng bị thương và hi sinh
Tháng 10-1894, nghĩa quân giành thắng lợi tại Vụ Quang.
Ngày 28-12-1895, Phan Đình Phùng hi sinh => khởi nghĩa thất bại (1896)
-Ý nghĩa: đây là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trong PTCV vì thời gian lâu dài nhất (hơn 10 năm), địa bàn rộng lớn nhất (4 tỉnh), chế tạo được súng trường kiểu Pháp, gây nhiều thiệt hại cho Pháp và có chỉ huy tài giỏi như PĐP, Cao Thắng,
- Nguyên nhân thất bại: thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức lãnh đạo.

---
Chúc các bạn ôn tập và thi tốt


THÔNG BÁO
Tất cả CÁC BẠN LỚP 10 (kể cả 10/16): THỨ 5 (ngày 13/4/2017) Kiểm tra 15 Phút câu 1-4 trong Đề cương. Vì thời gian rất GẤP nên các bạn cố gắng ôn tập để kiểm tra và thi học kì.

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI HỌC KÌ II
NĂM HỌC 2016 – 2017
MÔN: LỊCH SỬ 10

Câu 1. Sự nghiệp thống nhất đất nước của Phong trào Tây Sơn
- Giữa thế kỉ XVIII, đất nước chia cắt, chế độ phong kiến ở Đàng Ngoài và Đàng Trong đều lâm vào khủng hoảng trầm trọng => đời sống nhân dân vô cùng cơ cực.
- Năm 1771 ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa ở Tây Sơn (Bình Định).
- Từ 1771 – 1777, Tây Sơn lật đổ chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
- Từ năm 1786 – 1788 Tây Sơn tiến ra Bắc lật đổ tập đoàn Lê – Trịnh.
=> Bước đầu thống nhất đất nước.
Câu 2. Sự nghiệp bảo vệ tổ quốc của Phong trào Tây Sơn
Sự nghiệp bảo vệ tổ quốc của Tây Sơn gắn liền với hai cuộc kháng chiến vĩ đại.
a.  Cuộc kháng chiến chống quân Xiêm (1785)
- Cuối năm 1784, theo sự cầu viện của Nguyễn Ánh, 5 vạn quân tràn vào chiếm đóng gần một nửa đất Gia Định. Chúng ra sức cướp phá dân ta.
- Tháng 1- 1785, Nguyễn Huệ tổ chức trận đánh phục kích ở Rạch Gầm – Xoài Mút (Tiền Giang) đánh tan quân Xiêm, Nguyễn Ánh phải chạy sang Xiêm.
=> Miền Nam trở lại yên bình.
b. Kháng chiến chống quân Thanh (1789)
- Cuối 1788, theo sự cầu viện của Lê Chiêu Thống, 29 vạn quân Thanh tràn vào chiếm Thăng Long. Chúng ra sức cướp phá dân ta.
- Cuối năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, chỉ huy quân tiến ra Bắc.
- Quang Trung dừng chân tại Thanh Hóa, Nghệ An để tuyển thêm quân.
- Từ đêm 30 đến Trưa Mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), nghĩa quân Tây Sơn lập nên chiến công hiển hách ở Ngọc Hồi, Đống Đa, đánh bại hoàn toàn quân xâm lược.
=> với hai cuộc kháng chiến vĩ đại, PTTS đã bảo vệ vẹn toàn độc lập dân tộc.
Câu 3. Tây Sơn và công cuộc xây dựng, khôi phục đất nước
- Năm 1778 Nguyễn Nhạc xưng Hoàng đế, lập vương triều Tây Sơn.
- Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế (Quang Trung) và thực hiện chính sách:
+ Xây dựng chế độ chuyên chế.
+ Ban chiếu kêu gọi nhân dân khôi phục sản xuất.
+ Lập lại sổ hộ.
+ Tổ chức lại giáo dục, thi cử, dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm, dùng chữ Nôm để làm tài liệu dạy học, thi cử.
+ Xây dựng quân đội mạnh.
- Đối ngoại: quan hệ hoà hảo với nhà Thanh, quan hệ với Lào và Chân lạp rất tốt đẹp.
- Năm 1792 Quang Trung qua đời.
- Năm 1802 Nguyễn Ánh tấn công, các vương triều Tây Sơn lần lượt sụp đổ.
Câu 4. Chính sách về văn hóa của chính quyền phương Bắc thực hiện ở nước ta và kết quả của nó.
Về văn hoá, Chính quyền phương Bắc đã
- Truyền bá Nho giáo vào nước ta.
- Mở trường dạy chữ Nho
- Bắt dân ta theo phong tục người Hán
- Đưa người Hán vào sống chung với người Việt.
=> Nhằm thực hiện âm mưu đồng hoá nước ta.
Kết quả:
- Dân ta đã tiếp thu và “Việt hóa” những yếu tố tích cực của văn hoá Trung Quốc như văn tự, ngôn ngữ…
- Dân ta vẫn bảo tồn Tiếng Việt, giữ  vững phong tục tập quán như nhuộm răng đen, ăn trầu, tôn trọng phụ nữ…
- Làng xóm là “thành lũy kiên cố” bảo vệ nhân dân trước sự xâm nhập của văn hóa ngoại bang.
=> Nhân dân ta không bị đồng hoá với người Hán ở Trung Quốc.
Câu 5. Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ TK XVIII
1. Nguyên nhân bùng nổ chiến tranh
Nguyên nhân sâu xa:
- Đầu thế kỉ XVIII, người Anh đã lập ra 13 thuộc địa ở Bắc Mĩ.
- Giữa TK XVIII, kinh tế thuộc địa phát triển nhanh  theo TBCN, tiếng Anh được sử dụng và hình thành thị trường thống nhất, thuộc địa là nơi cạnh tranh với chính quốc.
- Chính phủ Anh đã: Cấm sản xuất một số hàng công nghiệp, cấm thuộc địa mở doanh nghiệp, cấm đưa máy móc, thợ lành nghề từ Anh sang, cấm khai hoang vùng đất miền Tây, cấm tự do buôn bán, ban hành chế độ thuế khóa nặng nề..
=> mâu thuẫn giữa thuộc địa với chính quốc sâu sắc.
Nguyên nhân trực tiếp:
- Tháng 12-1773, sự kiện chè Boston bùng nổ, Anh đóng cửa cảng Boston.
- Tháng 9-1774, Đại hội Lục địa lần thứ nhất tại Philadelphia yêu cầu Anh bãi bỏ những thứu thuế vô lý nhưng thất bại.
=> Chiến tranh bùng nổ.
2. Kết quả - ý nghĩa
Kết quả
- Năm 1783, Anh ký hòa ước Versaillès, công nhận độc lập của Bắc Mĩ.
- Năm 1787, thông qua Hiến pháp, xác lập thể chế Cộng hòa Liên bang do Tổng thống đứng đầu.
- Năm 1789, G.Washington trở thành Tổng thống đầu tiên của Mĩ.
Ý nghĩa
- Lật đổ nền thống trị của Anh, mở đường cho CNTB phát triển -> đây là CMTS đầu tiên nổ ra ngoài châu Âu, thúc đẩy phong trào cách mạng chống phong kiến ở Châu Âu, là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với nước Pháp.
Câu 6: Cách mạng Tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII
1. Tình hình kinh tế xã hội nước Pháp trước cách mạng
- Kinh tế
+ Nông nghiệp lạc hậu, công cụ sản xuất lạc hậu, thô sơ, nạn đói thường xuyên…
+ Công – thương nghiệp phát triển, có nhiều xưởng lớn, sử dụng máy móc phổ biến. mở rộng buôn bán với châu Âu và phương Đông nhưng bị PK kìm hãm.
- Chính trị: duy trì chế độ quân chủ chuyên chế do vua Louis XVI đứng đầu
- Xã hội: gồm 3 Đẳng cấp:
+ Tăng lữ, Quý tộc: hưởng mọi đặc quyền, giữ chức vụ cao, không nộp thuế..muốn duy trì PK.
+ Đẳng cấp Thứ ba gồm: tư sản, nông dân, bình dân…không có quyền lực chính trị, phải chịu mọi thứ thuế, bị PK áp bức, bóc lột nặng nề.
=> Mâu thuẫn giữa Đẳng cấp thứ 3 với Tăng lữ, Quý tộc ngày càng sâu sắc.
2. Đấu tranh trên mặt trận tư tưởng
- TK XVIII, xuất hiện Trào lưu “Triết học Ánh sáng” với các đại biểu như: Voltaire, Rousseau,  Montesquieu. Các ông đã kịch liệt tố cáo, phê phán sự thối nát của chế độ PK và Giáo hội Ki-tô, đưa ra triết lý về xây dựng nhà nước mới =>thức tỉnh nhân dân đấu tranh.
3. Ý nghĩa lịch sử cách mạng Pháp cuối thế kỉ XVIII
- Tính chât: Cách mạng Pháp do Tư sản lãnh đạo, lật đổ và xóa bỏ tàn dư của chế độ phong kiến, giải quyết vấn để ruộng đất cho nhân dân, xóa bỏ những cản trở phát triển kinh tế TBCN và hình thành thị trường dân tộc thống nhất => Đây là cách mạng tư sản triệt để.
- Hạn chế: NHÂN DÂN là lực lượng làm cách mạng thắng lợi nhưng quyền lực nằm trong tay tư sản.
-Ý nghĩa: làm lung lay chế độ phong kiến châu Âu, mở ra thời đại thắng lợi và củng cố của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi thế giới.
Câu 7: Cách mạng Công nghiệp Anh
- Tiền đề: Anh có nguồn tư bản khổng lồ, nhân công đông nhất châu Âu và có sự cải tiến trong kĩ thuật sản xuất nên cách mạng công nghiệp nổ ra đầu tiên ở Anh.
Những phát minh về máy móc:
- Năm 1764 Giêm Ha-gri-vơ sáng chế ra máy kéo sợi Gienni.
- Năm 1769 Ác-crai-tơ chế tạo ra máy kéo sợi chạy bằng hơi nước.
- Năm 1779 Crôm-tơn cải tiến máy kéo sợi tạo ra sản phẩm đẹp, bền hơn.
- Năm 1785 Các-rai chế tạo máy dệt chạy bằng sức nước, năng suất tăng 40 lần.
- Năm 1784 Giêm Oát phát minh ra máy hơi nước và đưa vào sử dụng.
Luyện kim: Năm 1735 phát minh ra phương pháp nấu than cốc luyện gang thép, năm 1784 lò luyện gang đầu tiên được xây dựng.
Giao thông vận tải: Năm 1814 Xti-phen-xơn chế tạo thành công đầu máy xe lửa.
Kết quả: Giữa thế kỉ XIX Anh trở thành công xưởng thế giới.
---
Chúc các bạn ôn tập và thi tốt